Xem tứ trụ

anhhungxadieu


Em sinh vào mùa hè,mệnh hỏa,nhật nguyên vượng,thương quan vượng,quan tinh yếu,lại bị hợp. Em ngẫm lại các năm Tân,Nhâm,Quý,canh,Bính thì thường thuận lợi,nhất là kiếm tiền nhiều hơn so với các năm khác. Em đang ở đại vận Bính Dần mưu sự như ý,thành công.Em nghĩ dụng thần của bát tự này là :Kim,Thủy,Bính Hỏa,Ất Mộc. Rất mong bác cho ý kiến dụng thần của bát tự này là gì? Mệnh của em có phải là thương quan thương tận không hay là thương quan chế sát? Rất mong bác giúp đỡ.Em cảm ơn bác rất nhiều.

Tôi là người rất trực tính,nóng nảy,hiếu thắng,kiên trì nhẫn nại,mừng giận thất thường,hỉ nộ ái ố thể hiện ra mặt..Hồi nhỏ tôi học hành có tiếng,chăm chỉ,mẫu mực,nhưng thực ra học lệch,chỉ giỏi 1 môn,năm 1997 tôi đỗ đại học,học được gần 1 năm tôi bỏ học đại học,định thi trường khác,dự định đỗ rồi sẽ thông báo cho gia đình biết,nào ngờ,mấy năm sau thi không đỗ,nếu có đỗi thì cũng không đỗ khoa mình thích.Mây năm bỏ học,gia đình ko ai biết.Năm Cuối năm 2001 gia đình biết và đưa tôi về quê.Không ai ngờ tôi chăm chỉ,học hành có tiếng mà bây giờ tay trăng.Bố là giáo viên về hưu,mẹ làm ruộng,nhưng bố mẹ vẫn quyết tâm tạo điều kiện cho tôi thi tiếp đại học,vì tôi dạng thư sinh,trói gà không nổi,sao làm ruộng được,lấy vợ thì làm gì có nghề nghiệp,ai thèm lấy.2002 tôi thi trượt cả 3 nguyện vọng,2003 là năm quyết định,sinh tử,không đỗ không được vì lúc này bố mẹ cũng già rồi,gần 70 tuổi.Năm 2003 tôi đỗ đại học.Trong quãng thời gian 5 năm học,bố mẹ vẫn làm ruộng nuôi tôi ăn học,ngoài bố mẹ ra có 1 chị gái cũng giúp đỡ rất lớn cho tôi về kinh phí học tập,tiền ăn,tiền trọ ( gia đình chị giầu có).Giai đoạn từ 15 đến 24 tuổi của tôi là giai đoạn khó khăn nhất,nhiểu biến động,lên voi xuống chó.Tôi thừa nhận mình không thông minh lắm,nhưng rất nhiệt huyết,kiên trì,nhẫn nại,làm bất cứ điều gì mình thích thì dù khó đến mấy cũng cố gắng làm bằng được.Dù có thất bại 15 lần nhưng tôi vẫn đứng dậy.Trong cuộc đời tôi thấy mình có nhiều người giúp nhưng luôn đề cao tính tự lực tự cường.Mấy năm gần đây tôi ăn lên làm ra,phát đạt,mưu sự toại chí,ung dung,làm nghề mình yêu thích,tay không dựng cơ đồ,con cái khỏe mạnh,nếp tẻ đầy đủ.Ngẫm lại cách đây 12 năm,không ai có thể nghĩ tôi có thể vươn lên được như bây giờ

Bát tự của tôi:Năm Kỷ Mùi,tháng Canh Ngọ,ngày Kỷ Mùi,giờ Giáp Tí ( âm nam)

Thân cường,mệnh có Thương quan gặp Ấn,có Thương quan gặp quan.

Theo các sách của Thiệu Vĩ Hoa,Lý Cư Minh thì ngày Kỷ sinh tháng 5 âm thì dụng thần là Quý,Bính ( tốt nhất là Quý,điều hầu).

Lá số tứ trụ:

Tôi có đặc điểm không ngủ trưa rất khó chịu,hôm nào cũng phải ngủ trưa tối thiểu 15' hoặc 30 phút,bận quá thì thôi.Tôi thức đêm,làm việc,suy nghĩ,nghiên cứu ban đêm rất hiệu quả.Tôi từ bé cũng hay ngồi lỳ đọc sách trong phòng vệ sinh,hoặc tắm rửa trong phòng vệ sinh rất lâu.Vào mùa hè oi bức,đồ nóng,thức ăn rán,nóng tôi không thích.Tôi nghĩ phải chăng Thủy là 1 trong các dụng thần.

Tôi có mấy câu hỏi,mong bạn và các cao nhân giúp đỡ:

1.Dụng thần trong lá số này là gì.Mong bạn cho biết dụng thần số 1,số 2,số 3.

2.Mệnh này vừa có thương quan gặp ấn ở trụ tháng,vừa có thương quan gặp quan.Có người bảo Giáp hợp Kỷ hóa Thổ,vậy trở thành Thương quan chế sát.Có người bảo mênh này phải tòng hỏa,thổ. Tóm lại mênh này tạo thành cách cục gì.

3.Các đại vận sau có tốt không?


Giờ tý, 21/6/79 DL, nam



thienkhanh

Anh cho em hỏi người chị này là chị ruột hay sao? Anh bắt đầu làm ăn tốt lên từ khi nào? Vì bát tự này của anh có hiện tượng hợp, nên nó phức tạp, hỏi cho kĩ thì định dụng thần dễ hơn với chắc chắn hơn. Cám ơn anh.

anhhungxadieu

Tôi cung cấp thêm 1 số thông tin:Chị gái này là chị ruột của tôi,nhà tôi đông anh chị em,tôi là út.Chị gái này kinh tế khá giả,nhà giầu,có tâm có đức,2 vợ chồng chị đều hay giúp đỡ người khác,tín ngưỡng đạo Phật.Giai đoạn 2003 đến 2008 học đại học,bố mẹ tôi vẫn làm ruộng,nuôi tôi ăn học,nhưng nhà nông kinh tế có hạn,không có vợ chồng anh chị này giúp đỡ vật chất,tiền bạc thì tôi rất khó khăn để học hành.Từ 2009 đến 2011 tôi vẫn chịu ảnh hưởng nhiều từ chị gái,lúc này tôi học xong,chưa có việc làm ổn định,tôi vẫn ở nhà chị gái ( nhà chị ở trên thành phố).2012 tôi lấy vợ,vợ tuổi Canh Thân.Tôi từ 23 tuổi,do cuộc đời biến động nhiều,nên cũng có nghiên cứu số,tôi thấy bát tự của mình thì mệnh khắc vợ rất nặng,nên tôi thích chọn vợ tuổi 80,81,90 cho hợp tuổi,can chi tương sinh tương hợp .Từ 2013 đến nay tôi ăn lên làm ra,phát đạt,tôi mua nhà ở thủ đô và cũng rất nhanh chóng trả hết nợ,mua nhà thì cũng được các anh em ruột của vợ hỗ trợ,cho vay không lấy lãi.Từ bé đến 32 tuổi,tôi gầy,chưa lần nào cân nặng quá 49 kg,từ khi lấy vợ tôi béo ra,hiện nay gần 60 kg.Tính cách tôi luôn đề cao tự lực tự cường,nhưng công nhận là hay có quý nhân giúp đỡ.Tính cách tôi có vẻ ngạo khí,tôn trọng người khác nhưng rất khó phục ai. ( có lẽ do thương quan gặp quan).Nhưng có thể giúp được ai,tôi rất nhiệt tình,tận tâm,tôi luôn đề cao đức năng thắng số,chí nhân thắng số.Mong bạn hồi âm.Tôi cảm ơn bạn rất nhiều.

thienkhanh

Bát tự anh mệnh Kỷ vượng, Giáp - Kỷ không hoá. Dụng kim, mộc, thuỷ đều được. Tối kỵ thuỷ bị tổn thương là thứ nhất, điều kỵ thứ 2 là kim mộc giao chiến.


Thổ, hoả là kỵ. 2 vận Đinh Mão và Bính Dần, hoả không hoá hết mộc.


Mệnh anh không khắc vợ, mà vợ anh biết cách "quản" được anh bằng những điều tế nhị.

anhhungxadieu

Cảm ơn bạn,vậy dụng thần tốt nhất là Thuỷ,rồi đến Kim hoặc Mộc.Tôi thừa nhận vợ rất đảm đang,quật cường,nhân hậu,sống rất có tình cảm không ai chê được.Bố mẹ chồng coi như con gái,có câu nói Vợ chính là phong thuỷ.Tôi nghĩ câu này đúng,vợ tôi là người nhân nghĩa thực sự,biết kiếm tiền,biết chi tiêu hợp lý.Chính anh rể tôi khen bố mẹ tôi có thể thọ thêm 10 năm nữa từ khi tôi lấy vợ.Tôi có 2 câu hỏi,mong bạn giúp đỡ:

1.Bạn nói 2 vận Đinh Mão và Bính Dần,Hoả ko hoá hết mộc.Tôi vẵn chưa hiểu rõ câu này.

2.Đại vận 55 đến 64 tuổi của tôi là đại vận Giáp Tí.Bát tự cũng có Giáp Tí ở trụ giờ,liệu có nguy hiểm gì không vì có hiện tượng phục ngâm.

thienkhanh

1. Câu này em không tiện giải thích, mong anh thông cảm. Cái này liên quan đến kinh nghiệm xem bát tự.

2. Vận Giáp Tý phục ngâm không phải là vấn đề lớn, anh cẩn trọng trong hôn nhân 1 chút là được.

anhhungxadieu

Dụng thần là Thủy,Mộc,tôi nhất trí quan điểm này.Có điều dụng thần là Kim hay Hỏa,hiện giờ tôi vẫn phân vân.Từ trước đến nay các năm Bính ( 1996;2006;2016) tôi hay có quý nhân.Theo Lý Cư Minh,Thiệu Vĩ Hoa thì ngày Kỷ sinh tháng 5 âm lịch có dụng thần là Bính,Quý ( Quý là tốt nhất,điều hầu).Sinh tháng 5 âm,gặp Bính ở năm hoặc đại vận thì có nguyệt đức quý nhân.Tôi ăn lên làm ra phát đạt từ 2013 đến nay,2013 Quý Tỵ làm ăn tốt;2016 Bính Thân làm ăn tốt nhất trong mấy năm gần đây.Đại vận Bính Dần ( ấn tinh),có nguyệt đức quý nhân,Bính lại là dụng thần ( theo sách của Lý Cư Minh,Thiệu Vĩ Hoa),phải chăng tôi ăn lên làm ra,phát đạt,về bằng cấp có thêm bằng thạc sĩ.Về mùa hè oi bức,tôi rất ghét ăn đồ nóng,lẩu,đồ rán.Tôi có thói quen hay ngủ trưa,ngủ trưa 1 hoặc 2 tiếng nhưng làm việc có thể thức suốt đêm được,hồi bé hay tắm rửa rất lâu,hay có thói quen đọc sách trong phòng vệ sinh rất lâu.Tôi nghĩ có thể tôi kỵ hỏa nhưng ko kỵ Bính hỏa.Hiện giờ tôi vẫn chưa rõ Canh Kim ở trụ tháng là tốt hay phá cách nữa.Mong bạn có đôi lời.

thienkhanh

Càn: Kỷ Mùi - Canh Ngọ - Kỷ Mùi - Giáp Tý


Vận Bính Dần: thời can Giáp Quan trát lộc căn.


Năm 2013, vận Bính Dần, niên Quý Tỵ: Quý thấu từ Tý, nguyệt can Thương Quan Canh trát căn sinh Tài chế Ấn Bính.


Năm 2016, vận Bính Dần, niên Bính Thân: Năm này có 2 hiện tương (a) Nhi sinh Tài và (b ) Thương Quan kiến Quan. Nếu anh đã phát tài rồi thì nhờ anh phản hồi thông tin về gia đạo (cha mẹ, anh chị em, ông bà). Cám ơn anh.

anhhungxadieu

Cảm ơn bạn,tôi quê ở Thái Bình,vợ quê Nam Định,nhà tôi có 9 anh chị em,bố mẹ đều khỏe mạnh,minh mẫn,hiện tại bố mẹ tôi đều trên 80 tuổi.Nhà tôi có 7 con gái,2 con trai,tôi là út.Các chị gái tôi đều khỏe mạnh,thông minh,nhưng ngày xưa các cụ trọng nam khinh nữ,kinh tế bình thường,nên các chị gái chỉ học cao nhất là đến lớp 8,các chị gái tôi đều đa phần làm ruộng,có 1 chị làm kinh doanh,1 chị gái giầu có sống ở thành phố.Anh trai tôi là giáo viên cấp 2,có 2 con đều giỏi giang,1 đứa thi được giải khuyến khích môn Hóa toàn quốc.Tôi là con út nên được bố mẹ chiều chuộng nhất.Tôi chẳng biết mặt mũi ông bà nội tôi,lúc tôi sinh ra ông bà nội mất rồi.Tôi mua nhà,phần lớn là được sự giúp đỡ anh chị em nhà vợ.Các anh chị em ruột và anh chị em bên vợ đều khỏe mạnh.Bố mẹ bên vợ hiện tại gần 70 tuổi,vẫn khỏe mạnh

Bàn luận về cách xem của Lý Cư Minh

Cách luận của ông Lý Cư Minh theo trường phái tam hợp rất nặng. Tam hợp là 1 trường phái lí luận không chỉ có trong tử bình, mà nó còn rất phổ biến trong tử vi và phong thuỷ.

Trường phái tam hợp trong tử bình được biểu hiện bằng cách luận nhị hợp, tam hợp, minh ám cận dao. Thấu can mà hợp là minh hợp. Ví dụ cùng 1 bát tự mà có thấu Giáp - Kỷ là minh hợp. Thấu Giáp mà không có Kỷ, dùng phương pháp lấy không thành có (vô trung sinh hữu) kết hợp cung vị để luận can Kỷ thì là ám hợp. Thiên địa tự hợp (Đinh Hợi, Giáp Ngọ), thiên địa hợp (Ất Dậu - Bính Thân) đều là ám hợp. Nguyệt trụ Dần gặp thời trụ Hợi là dao hợp. Nguyệt trụ Dần gặp nhật trụ Hợi là cận hợp.

Đặc điểm rõ nét nhất của trường phái luận này là luận ám hợp.

Tuy nhiên phần hệ thống tam hợp trong Tử Bình này được giấu rất kĩ, hầu như các sách chỉ thấy luận phần ngọn (như sách của ông Lý Cư Minh), mà không thấy giải thích phần gốc; tức là không giải thích nguyên lý vì sao có thể vận dụng luận ám hợp như vậy. Cho nên sách của ông Lý không phải là quyển sách tốt để bắt đầu nghiên cứu Tử Bình. Đọc nghe rất giống gọt chân cho vừa giày.

Ngoài ra cách luận của ông Lý còn chú trọng đặc điểm của từng can chi. Nó không cứng nhắc mà linh động. Ví dụ nói Bính hoả: Bính hoả mãnh liệt, khi sương vũ tuyết. Năng đoàn Canh kim, tùng Tân phản khiếp. Sĩ chúng thành từ, thuỷ xương thấp tiết. Hổ mã khuyển hương, Giáp lai phần diệt.

Phía dưới chỉ giải thích nghĩa của đoạn "năng đoàn Canh kim, tùng Tân phản khiếp".

Bính hoả thích vượng, nhưng vượng quá hoá dở, sẽ đốt trọi vạn vật. Nếu vượng mà gặp Tân kim thì tốt hơn gặp Canh kim. Gặp Tân thì có thể bớt mãnh liệt, vì Bính - Tân hợp, là vợ chồng hợp, thiên kinh địa nghĩa, thành ra sự khắc nhau không lớn. Bính - Tân hợp lại có xu hướng hoá thuỷ làm dịu sức nóng của Bính. Trong khi đó, nếu Bính vượng lại gặp Canh kim là tổn tài, vì Bính - Canh không hợp nên Canh bị khắc mạnh, thành ra là phá. Tuy nhiên, trong trường hợp Bính hoả vượng, bát tự không thấu Canh kim, hành vận gặp Canh kim mà hữu tình, như là Canh kim được địa tái, hoặc Canh kim gặp thiên khí sinh trợ, thì vẫn luận là cát, đắc Tài.

Ngược lại, nếu Bính nhược, gặp Tân kim lại xấu hơn gặp Canh kim. Gặp Canh kim là gặp Tài, trừ khi thế lực Canh hơn thế lực Bính rất lớn thì kim mới nghịch khắc hoả, còn nếu không thì làm tổn hoả nhưng không nghiêm trọng. Bính nhược gặp Tân kim, hợp hướng thuỷ, chồng theo vợ, nhược lại thêm nhuyễn khiếp, vô tài vô cán.

Lại thêm Bính hoả vô căn, vô khí, vô sinh, vô trợ, tòng Tân hoá thuỷ, tức là gặp Tài mà hoá Quan, thường thì luận danh lợi song thu.

Ngoài ra, ông Lý còn kết hợp thêm nguyên thần, vệ thần để luận cát hung của nguyên cục.

Qua đó có thể thấy luận tính chất thiên can rất phức tạp, rất nhiều lối suy luận khác nhau, cũng không thích hợp cho người nhập môn. Khi bắt đầu nghiên cứu Tứ trụ chỉ cần luận theo ngũ hành, hướng tới mục đích cân bằng ngũ hành, từ đó phác thảo cát hung của mệnh. Làm được điều này đã khá khó rồi. Sau khi cân bằng được ngũ khí, mới bắt đầu tiến hành cân đo tỉ mỉ từng hành khí một. Bắt đầu nghiên cứu Tử Bình bằng việc lập tức cân đo tỉ mỉ hành khí, trừ khi có minh sư hướng dẫn, còn nếu tự học thì chông gai vô cùng.

Hóa hợp Thiên Can

Càn: Bính Dần - Canh Tý - Ất Dậu - Ất Dậu

1. Thiên can ngũ hợp:

Ất - Canh hợp không hoá. Qui tắc hợp hoá: Thiên can ngũ hợp cần dẫn thần tại nguyệt chi. Ví dụ: Ất - Canh hợp muốn hoá thì phải sinh vào tháng kim vượng như Thân, Dậu. Nếu sinh vào tháng Sửu thì kim khí cần đắc thế; đồng thời thế đó phải dẫn được kim từ Sửu.

Bính - Tân hoá thuỷ ở chỗ nào trong bát tự?

2. Hợp hoá kiểu đó thì xem vượng suy như thế nào?

Hợp mà không hoá thì xem vương suy như... bình thường.

3. Phiến Ấn cách

Vượng Suy Pháp và Cách Cục Pháp là 2 trường phái khái nhau. Khi mới học chỉ chọn 1 thôi.

4. Tiết Đại Tuyết: Ất Canh hợp hoá mộc.

Ất - Canh hợp hoá mộc là phu tòng thê hoá. Canh khắc hợp Ất nên Canh là phu, Ất là Thê. Phu tòng thê hoá cần phải có điều kiện là thê tinh đắc khí, đắc thế rất lớn mới có thể hoàn thành. Bởi vì đối với trường hợp Ất - Canh hợp, thê tòng phu hoá, tức Ất - Canh hợp hoá kim là thường lý; phu tòng thê hoá tức Ất - Canh hợp hoá mộc là biến lý. Biến lý là trường hợp rất hiếm. Nếu chỉ coi theo tiết khí thì dù thê tinh khi đắc khí (như trường hợp này Ất mộc sinh vào tiết Đại Tuyết) nhưng đó vẫn chỉ là có khí mà chưa có đủ thế để bắt phu tinh phải tòng theo.

Bắt đầu học, nếu em muốn tham khảo vượng suy thì nên đọc sách của ông Thiệu Vỹ Hoa. Ở VN sách Nhập Môn Tử Bình của TVH có 2 hay 3 cuốn gì đó. Mấy quyển này có thể không nói hết các vấn đề hoặc không đề cập đến các bí quyết nhưng tổng thể thì có thể tin tưởng được, không phải man thư. Còn nếu em muốn tham khảo cách cục thì thử hỏi những vị khác, vì anh không nghiên cứu Cách Cục Pháp.

Những vấn đề em hỏi ở trên, em nên tự đọc sách, vì đó đều là các vấn đề cơ bản, có thể tự tìm hiểu được. Em hỏi như vậy ít ai muốn trả lời. Nhưng thôi, anh giúp em 1 chút cũng được.

1. Quan khố là gì?

Mệnh mộc (nhật chủ là Giáp Ất) thì Quan Sát là kim, kim khố/mộ tại Sửu, nên Sửu là Quan/Sát khố.

Mệnh hoả, Quan/Sát khố tại Thìn.

Mệnh thổ, Quan/Sát khố tại Mùi.

Mệnh kim, Quan/Sát khố tại Tuất.

Mệnh thuỷ, Quan Sát khố tại Tuất. Nhưng trường hợp này hơi đặc biệt, anh không giải thích thêm.

2. Thiên Ấn và Kiêu Thần

Thiên Ấn hữu tình (có ích) gọi là Thiên Ấn. Thiên Ấn vô tình (có hại) thì gọi là Kiêu Thần. Một số sách qui định khi Thiên Ấn đoạt Thực (khắc Thực Thần) thì gọi là Kiêu Thần.

Tuy nhiên, mọi người thống nhất (ngầm thôi, không có luật qui định cụ thể) gọi Thiên Ấn là Kiêu vì lí do ngắn gọn, tiện lợi.

Đồng thời theo quan điểm Tử Bình cổ điển thì các thần Thiên Ấn, Thương Quan, Thất Sát, Kiếp Tài là hung thần, cho nên gọi Thiên Ấn là Kiêu (Thần) cũng phản ánh quan điểm đó. Tuy nhiên một nhánh của Vượng Suy tân phái không công nhận luật này mà chỉ qui định hữu tình là cát thần, vô tình là hung thần.

3. Cách tìm dụng hỷ kỵ cừu

Tự đọc sách.

4. Kiếp Sát và các ứng dụng hệ thống thần sát:

Tự đọc sách, tự đi coi lá số thực tế, tự kiểm nghiệm. Còn chỉ học Tử Bình để giải lá số của mình hay để gọt số của người khác (đã biết trước vận hạn, chỉ giải thích lại bằng Tử Bình) thì không thấy được vấn đề này.

5. Bát tự không Tài Quan thì Quan có phải là Chính Quan?

Chính Quan chỉ là 1 tên gọi, không liên quan đến việc có xuất hiện trong bát tự hay không. Ví dụ mệnh Ất, bát tự không có Chính Quan Canh kim. Khi đại vận hoặc lưu niên gặp Canh thì vẫn là gặp Chính Quan.

6. Dụng thần thấu lộ: dễ bị lên xuống thăng trầm

Xem trả lời số 4.

7. Khi tìm được dụng thần thì nó liên quan thế nào đến đại vận

Thường đại vận gặp dụng hỷ là tốt, gặp kỵ cừu là xấu. Tuy nhiên có trường hợp gặp dụng hỷ lại xấu. Phần này còn cần nắm vững sự vận động của từng bát tự riêng biệt, qui tắc vận niên thiết nhập mệnh cục (bát tự), đồng thời phải nhìn được khí thế của toàn cục (mệnh + vận + niên).

8. Dụng thần là Quý thuỷ hay Bính hoả

Anh giúp em luận bát tự của em 1 chút.

Càn: Bính Dần - Canh Tý - Ất Dậu - Ất Dậu

Mệnh Ất sinh trọng đông tháng Tý, tướng: đắc tiết; Ất thông căn tại Dần: vững. Toạ 2 Dậu, lại thấu Canh: Canh vững mạnh. Canh đến hợp chế Ất thì mộc tổn, nhưng toạ Tý có hoá kim khí một ít (kim sinh thuỷ). Cộng thêm niên trụ thấu Bính tuy thất tiết (hoả sinh trọng đông tháng Tý là đất Tử) nhưng Bính hoả thu kim thuỷ khí (Canh -> Tý -> Dần -> Bính), lại toạ căn (Dần tàng Bính) vững mạnh, lại toạ Dần trường sinh liên miên (Bính trường sinh tại Dần): Bính có thế có lực khắc Canh kim.

Mệnh này có các điểm cần chú ý:

(1) Dậu Dậu tự hình nên cần phòng ngừa kim khí 1 chút (không giải thích thêm).

(2) Dần là sinh cơ

(3) Mệnh toạ Tý Dậu Dậu hơi hàn một chút, đã có Bính hoả điều hậu thì giải hàn nhưng cần bảo vệ hoả này, thành ra dụng hoả vẫn có tác dụng điều hậu.

Kim khí vừa bị tiết, vừa bị chế, thành ra mệnh này Ất mộc thiên vượng (hơi vượng 1 chút).

Dụng hoả vừa tiết mộc vượng, vừa khắc kim phù trợ mộc (vì Canh toạ Dậu - Dậu hình nên cần ngăn ngừa), vừa có tác dụng điều hậu trong trường hợp niên vận xấu. Mộc, kim là nhàn thần, có tốt có xấu, tuỳ tổ hợp niên vận.

Mệnh này dụng Quý thuỷ không lợi.

9. Mệnh Ất gặp Giáp: đằng la hệ Giáp, khả xuân khả thu.

Việc Ất gặp Kiếp Tài Giáp còn cần xem Giáp là hỷ hay kỵ. Tức là tuỳ vào bố cục của từng bát tự cụ thể mà luận. Rõ ràng đây là suy nghĩ theo tân phái, không phải lối suy nghĩ cổ điển Kiếp Tài (Giáp) là hung thần.

Bát tự thuần âm

Nhiều người nói bát tự thuần âm không tốt, thuộc vào loại người cô đơn đến già. Thực ra chỉ cần biết đặc tính của nó là có thể né tránh và hóa giải, mệnh vận là nằm trong tay con người.

Bát tự phối hợp bởi thiên can âm như Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quí ; hàng địa chi âm như Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là bát tự thuần âm.

I. Đặc điểm bát tự thuần âm:

Thích tôn giáo, thanh tịnh, ít ham muốn, khá nhiều người sau này qui y.
Cuộc sống hôn nhân không thuận lợi, xáo trộn, có người ở vậy cả đời.
Cả bốn mùa trong năm, bàn tay bàn chân lạnh.
Giác quan thứ sáu khá tốt, thích những chuyện linh dị.
Cả nam và nữ đa số khá đẹp.
II. Điểm không tốt của bát tự thuần âm:
1. Tính cách: Nữ mệnh thuần âm tính cách nhu nhược, đa sầu thiện cảm; nam mệnh thuần âm, tính cách hay sợ sệt, nhát gan, thậm chí có tính đàn bà.
2. Hôn nhân: Do tính cách thúc đẩy nên người thuần âm nhân duyên không tốt, tính cách cực đoan, nên khó sống cùng lâu bền với bạn đời. Trong đó có những người giả thuần âm thì hôn nhân tương đối tốt, trong mệnh (địa chi) có tàng can dương (ví dụ Bính, Canh, Mậu trong chi Tỵ) thì còn có thể cứu, cùng lắm là kết hôn lần nữa, hoặc li hôn xong thì cưới lại. Nhưng người thuần âm đa số hôn nhân khó thành, cô độc đến già.
3. Sức khỏe: Người thuần âm sống lâu, nhưng hay bệnh vặt.
III. Điểm hay của bát tự thuần âm:
1. Sự nghiệp: Người thuần âm sự nghiệp đều rất tốt, người thuần âm giỏi hòa giải, rất thuận lợi đường công danh và công tác trong cơ quan và tổ chức ngon.
2. Sức khỏe: Người thuần âm thì trường thọ, trong cuộc sống ung dung, hay cười, thanh đạm, nên tốt cho sức khỏe.
IV. Cách hóa giải các điểm bất lợi bát tự thuần âm:
Người bát tự thuần âm hợp đeo ngọc, mã não, hồng ngọc, đá đỏ, đá thạch lựu. Màu sắc nên chọn màu đỏ, màu bạc và màu trắng là tốt nhất, cũng thích hợp đeo các thứ đồ kim thuộc vật phẩm, nên nuôi chó.
---
midori
Tứ trụ thuần Âm
là người tính toán, kín mật, cẫn thận và rất dễ thân thiện. Những người này không bao giờ lộ ra bất đồng ý kiến với ai. Luôn luôn giữ sự nhận xét cho chính mình. Và hay hơn nữa là hoạch định kế hoạch và đi đến mục đích mà không làm tổn thương ai. Họ giữ mình trong một khuôn khổ riêng của họ. Tuy nhiên, sự đòi hỏi là phải sinh trong tháng Âm (tháng mùa Thu, mùa Đông). Nếu sinh trong tháng Dương (mùa Xuân, mùa Hè) thì người đó sẽ đôi lúc nóng nãy và rất ích kỹ. Đây là kết quã của sự bất dung hòa trong trụ. Hãy nhớ rằng: tất cã những sự tốt chỉ đến nếu tứ trụ được dung hòa (harmony), ngay cả bản tính của con người.
tripheo
Bát tự Thuần Âm (với Nữ) và bát tự Thuần Dương (với Nam) đó là Cô Dương và Cô Âm nên trước hết theo em đó là tính cô độc những người này thường xung khắc với cả lục thân
- Cô Dương bất sinh cô âm bất thành nên, cô độc là thế trên cao nên thường được sinh ra trong một gia đình bề thế, có uy cả một vùng nhưng từ khi người này sinh ra thì bắt đầu lụn bại dần, thậm chí rơi vào cảnh không còn gì cả tan nát nhưng sau lại tự tay gây dựng làm nên.
- Thuần Dương thì tính tình ngay thẳng nóng nảy thật thà, Thuần Âm thì nham hiểm yếm trá đa đoan khó lường
- Cùng Dương sinh Âm nên cũng có thể có trường hợp thuần Dương mà tính khí như đàn bà vậy cái này do mùa sinh.
- Cùng Âm sinh Dương nên nên người Nữ thuần Âm có thể có tính cách cương trực như đàn ông cái này cũng do mùa sinh.
glasjfkl
Tàng dương phải thấu hặc đại vận thái tuế thấu thì có nhiều biến đổi bất ngờ , không thấu thì cái phần dương nó bị đè nén ức chế khó phát lắm. như của cô này tuổi quý hợi kiếp tài là âm, hợi tàng nhâm giáp dương bị đè nén, thấu giáp thì phát tài, thấu nhâm thì phát họa.

Phong thủy tài vận

A Tư Tiểu Khang

Đường Đi và Cơ Sở Buôn Bán

1.Tam Xoa Lộ: Cơ sỏ buôn bán đặt tại ngay tại chỗ tam xoa đường thì Thương Vận không bình ổn, nếu bị 1 trong số các con đường đó xung xạ thì hay bị khẩu thiệt quan phi.

2. Thập Tự Lộ: Tốt xấu cần lấy Phi Tinh và mệnh của phòng chủ mà đoán.

3. Phản Cung Lộ: Là cung tiễn sát, chỗ buôn bán nếu có cửa đối diện với nó, tài vận không tốt cũng chỉ là chuyện nhỏ, nghiêm trọng hơn là dễ đem lại tai lạn huyết quang.

4. Đường Chữ T: Chỗ buôn bán đối diện với con đường hình chữ T, tức là bị đường xung, hầu hết đều luận là hung. Cũng nên dùng Phi Tinh mà định, nếu như chỗ cửa có Vượng Tinh bay đến, thì ngược lại đây thuộc “Xung Khởi Lạc Cung Vô Giá Bảo ”.

5. Thiên Trảm Sát: Chỗ buôn bán đối diện với một khe hở giữa các tòa nhà sẽ hình thành ra một luồng Phong Sát, tài vận lên lên xuống xuống thất thường.

6. Hướng Thủy Chạy Nghịch: Chỗ buôn bán trước mặt có một con đường đi, từ chỗ cửa của cơ sở cao chạy xuống thấp hẳn mà chạy đi. Phong Thủy gọi là “Thủy Long Phản Tẩu” tài vận không tốt, không thích hợp mở cửa hàng.

7. Tiễn Đao Sát: Sẽ ảnh hướng đến quan hệ giao dịch, số khách đến càng lúc càng ít.

8. Trực Lộ Không Vong: Chỗ buôn bán cửa lớn đối diện thẳng với một còn đường trực thẳng xung đến, Phong Thủy gọi là “Trực Lộ Không Vong” tài vận dần dần sạch sẽ.

9. Mặt Đối Gõ Nơi Chết Chóc: Trước mặt bọ đối diện với cảnh chết chóc, sự nhiệp không có lối ra.

Phép Bố Trí Tài Vị

1. Thập Đế Tiền Bố Tài Pháp

Tại vị trí Tài Vị sắp đặt tiền của 10 Vị Hoàng Đế nhà Thanh , gọi là Thập Đế Tiền, nếu được đúng là tiền cổ thật thì càng tốt nếu không dùng tiền phục chế cũng tạm được, chủ yếu phải xác định đúng và sắp đặt đúng thứ tự 10 vị Hoàng Đế.

2. Phép Dùng Vật Cát Tường Chiêu Tài

Có thể vị trí Tài Vị, hoặc vị trí đương vượng đặt một Tử Thủy Tinh Động (Động Thủy Tinh Màu Tím), Mã Não Tụ Bảo Bồn(Bồn Tụ Tài BằngĐá Mã Não), Lục U Linh Thủy Tinh, hoặc Hoàng Thủy Tinh hoặc Thái Thủy Tinh Thất Tinh Trận hoặc dùng 5 cái Thủy Tinh Tiểu Nguyên Bảo bố trí thành một Thủy Tinh Đại Nguyên Bảo, hình thành Ngũ Lộ Tài Thần Trận, Tỳ Hưu, Thiềm Thừ ba chân đều là những vật cát tường có thể chiêu tài, không nên dùng quá nhiều, tối đa cần khoảng 3 loại phối hợp là tốt.

3. Pháp Dùng Thực Vật Chiêu Tài:

Tại nơi Tài Vị có thể dùng một cái bồn, chậu cảnh loại không nhìn xuyên qua được(Tài không thể để lộ mà) trong bồn đổ vào 7, 8/10 nước sạch, trồng một số loại thực vật như Hoàng Kim Cát loại có lá to rộng, trên đó nhớ buộc thêm một sợi dây màu đỏ, tác dụng chính là chuyển các loại âm thực vật (Sống trong nhà, trồng trong nước) thành dương, nhớ thường thay nước sạch sẽ cho bồn, nếu có lá vàng úa thì ngay lập tức ngắt bỏ, tránh làm ảnh hưởng vận khí.

Khi dùng vị trí Thần Tài nhớ lưu ý thêm các phương vị phi tinh bay hàng năm, ngày khởi sự nên chọn ngày cát nhật lương thần.

-----

Đá Quý

1. Cần Chọn Đúng Đá Thiên Nhiên:


Khi là đá thiên nhiên thì các bạn để trên lòng bàn tay cách độ 1cm sẽ cảm nhận thấy có một áp lực bắn vào lòng tay, điều đó chứng tỏ năng lượng của đá rất lớn, đồng thời lòng bàn tay cảm thấy hơi trương lên, có cảm giác hơi tê tê thì đó là từ trường của đá cực lớn.

2. Nên Biết Công Năng Chuyên Biệt Của Đá Quý:

Đá Trắng: - Gia tăng vận thế, buôn bán hưng vượng, giải trừ tranh chấp.

Đá Lục (Xanh): - Mở ra sự nghiệp, tăng cường trí não, giải trừ bệnh tật.

Đá Vàng: - Đề cao chức nghiệp, đồng thời tăng cả chính tài, thiên tài, hoạch tài.

Đá Mờ (Phấn): - Tăng đào hoa, ái tình, quan hệ giao tiếp.

Đá Tím: - Tăng quan thăng cấp, củng cố đoàn kết, chỗ dựa quý nhân.

Đá màu Trà: - Ổn định phát triển, hoạch định mưu lược, cải thiện tâm lý.

3. Đá Quý Cần Được Khai Quang Mới Có Thể Phát Tài:

Nên nhờ người có năng lực Tâm Linh hoặc các vị Cao Tăng Đạo Cao Đức Trọng trì niệm Kinh Chú làm Pháp Khai Quang Điểm Tâm.

4. Các Bước Cụ Thể Dùng Đá Quý Thôi Tài:

- Chọn góc đối diện chéo với cửa chính (Nếu cửa ở giữa thì dùng góc đối diện chéo sang hai bên) đặt một Pháp Khí Đá Quý.

- Chọn trung tâm phòng khách treo lên trần một cầu đá quý.

- Chọn trên cửa lớn phía trong treo một đồ Pháp Khí bằng đá Quý (Hồ Lô là tốt nhất)

- Chọn vị trí lưu niên Cát Khí để bày.
--
Bố trí phong thủy

Tiền Tài chính là Mạch Nguồn của cuộc sống, bởi vậy ai ai cũng lao mình vất vả kiếm tiền. Phong Thủy học có nhiều tiêu chuẩn để hỗ trợ người ta có tể tăng thêm nguồn Tài Tiền, vận chuyển Tiền Tài cuộn cuộn đến ... Sau đây là một số Tiêu Chuẩn khá căn bản.

Nói đến Tài Vận thì do mỗi người mỗi ngành nghề, nên đường Tài Vận cũng mỗi người mỗi khác. Cho nên khi bố trí Phong Thủy để Vượng Tài cũng cần châm chước tùy biến, không nên cứng nhắc ! Mọi phương Pháp đều là Chết, Con Người mới là sống động.

1. Trong Phòng nên trưng bày một chậu cây cảnh thường xuyên Xanh Tốt, đặc biệt Lá càng to càng tốt.

2. Thường xuyên mở của sổ, nếu là năm phạm Lưu Tinh xấu có thể tạm đóng hoặc treo các đồ Phong Thủy hóa giải.

3. Trong phòng thường nên sáng sủa, nếu anh sáng không đủ nên bật đèn thường xuyên. Nhưng lưu ý đừng để năng chiếu quá nhiều.

4. Những đồ Vật Cao thường nên kê về phía trái của phòng. Nếu được nên đặt vật Phong Thủy là Thanh Long Thủ Tài.

5. Trong Phòng ở vị trí nổi bật dễ thấy nhất có thể treo hoặc đặt một bức tranh về Tiền Tài Vàng Bạc. Có thể tham khảo các chuyên gia về cung Tài lộc của mình để treo đặt.

6. Phòng Ốc nên giữ cho sạch sẽ thơm tho nhẹ nhàng, không vứt rác cũng như đồ vật lung tung.

7. Nên tham khảo các Chuyên Gia để đặt nước ở một số vị trí, có thể là nước tĩnh, có thể là nước động. To nhỏ nên phù hợp với diện tích bố cục của phòng.

8. Không cần biết Mệnh Quái là gì cũng nên tránh ngủ nghỉ ở vị trí phía Tây, Phía Tây là cực âm chi Khí, là nơi mọi vật suy tàn. (Nhật Lạc Tây Phương, Tài Vận Bất Vượng)

9. Trong phòng nên hạn chế bày đá, nếu như muốn bày cần lùi về phía sau hoặc sau ghế, nếu sử dụng làm Án cần tham khảo ý kiến của Chuyên Gia.

10. Nên sử dụng Tốt Ban Thờ Thần Tài cũng như Phù Lục phù hợp với ngành nghề của Mình. Như các ghề Quân Sự thì nên thờ Võ Tài Thần (TRiệu Công Minh, Quan Đế Thánh Quân) các nghề Văn Chức nên bày Văn Tài Thần (Phúc Đức Chính Thần, Gia Cát Tiên Sinh) ....

Trên đây là một số tiêu chuẩn để các Bạn Tham Khảo ............ Hợp Lý Hợp Mệnh mới là Chân Chính Phong Thủy.

---

Trước đây một thời gian, tôi có làm chuyên gia trả lời tư vấn cho một trang Web về Phong Thủy Học, có rất nhiều câu hỏi, rất nhiều thắc mắc của bạn đọc gửi về xin giải đáp. Từ những thắc mắc mang tính học thuật cho đến những câu hỏi rất vui như "Em muốn có người yêu vậy bao giờ có ?" - Không tên, không tuổi, không địa chỉ liên lạc - Những câu hỏi như vậy chắc chỉ có các nhà "Ngoại Cảm" mới trả lời được.

Tuy nhiên cũng có nhiều bạn đặt câu hỏi rất nghiêm túc, với thành ý cầu thị rõ ràng. Xin được nêu một trường hợp như sau:

- Hỏi: Em có thuê nhà để mở một cửa hàng bán Mỹ Phẩm, nhưng ở nhà thuê phía trước từ cửa bước vào có thiết kế hai cột hình vuông rất lớn, từ ngoài nhìn vào rất chướng mắt, che khuất góc nhìn. Và từ ngày mở cửa hàng đến giờ làm ăn cũng rất đì đẹt...Trước em cũng có một cửa hàng khác thuê nhưng rồi cũng nhanh chóng dọn đi...Xin cho em ý kiến ! Em cảm ơn !

- Đáp: Phân tích vấn đề của bạn, theo như cách bạn mô tả, có hai vấn đề cần xem xét:

1. Đối với vấn đề làm ăn của một cửa hàng mà suy bại thì có rất nhiều nguyên nhân, có hay không hợp tình hợp lý, tự bạn nên có phán đoán. Nếu như việc buôn bán tốt đẹp, có phải dọn đi không ? Điều này chắc chắn bạn cũng rõ được 7 - 8/10. Song đứng về góc độ Phong Thủy Học mà nói, tiếp tục vào kinh doanh của cửa hàng đang suy bại, cũng sẽ làm cho bạn phải hao tổn lớn. Bởi vì thực chất Khí Trường ở đã đang là suy thoái, người ta đã phải đi, bạn lại dọn vào, không có cải tạo hay biện pháp gì lớn. Chắc chắn không có gì thay đổi. Trừ khi Tài Vận của bạn đang ở vào thời kỳ cực đỉnh.

2. Tục Ngữ của người Hoa có câu "Tài Nguyên Quảng Tiến - nguồn tiền vào chỗ rộng rãi" phía trước cửa hàng của bạn có hai cây cột vuông lớn án ngữ e rằng dù có được Khí tốt đến cửa thì vào cũng không được bao nhiêu. Hơn nữa Tài Khí vốn là Thủy Khí (Thủy quản tài) nhưng hai cây cột đó là hình Mộc, hấp thu toàn bộ Tài Khí của bạn, khiến cho không có Khí đi vào. Như người ta hay nói vui "Thần Tài đến cũng bị đuổi đi"...Kiến nghị bạn nếu được nên dỡ bỏ hai cây cột chắn đó đi, nếu không được thì có thể giảm tối đa kích thước và đổi sang cột trụ tròn. Đồng thời trên hai cây cột đó nên trang trí đẹp mắt, giới thiệu tên sản phẩm cửa hàng, có thể được thì đặt một bát hương thờ Ngũ Lộ Thần tài ở đó, một mẹo nhỏ nữa có thể dùng sơn màu vàng cam viết lên hai cây cột đó (Mặt quay vào cửa hàng mình) bốn chữ Hán "Đối Ngã Sinh Tài". Bạn nên cải tạo lại toàn bộ cửa hàng và trang trí lại để Hoán Thiên Tâm đổi vận, sau đó ở vị trí giữa hai cây cột bố trí một Phong Thủy Luân (Kích cỡ tương đương phù hợp với khoảng không gian giữa hai cột) đây là cách để dẫn động Thủy Khí sinh tài.

Trên đây là một đoạn trong nhiều đoạn hỏi đáp của tôi với một bạn đọc cụ thể, sau đó bạn này đã làm theo hướng dẫn cụ thể của chúng tôi. Độ gần 8 tháng sau khi hoàn thành sửa sang cửa hàng và Khai Trương lại, bạn đọc ấy nhắn tin báo cửa hàng đã khá hơn trước nhiều và có lời cảm ơn trân trọng.

Dù không hề biết được cụ thể cửa hàng của bạn đó ở đâu, âu cũng là một kỷ niệm nhỏ nhưng vui trên bước đường học thuật của chính mình. Nhân dịp xuân về nhắc lại để thấy Ơn Đời !

---

Khi sử dụng và bố trí Đổ Thần - Hàn Tín Gia Gia trong Phong Thủy Học, chúng ta cần chú ý mấy điểm sau:

- Người dùng nên là người có Tố Chất cờ bạc như mệnh vượng, đắc niên nguyệt mà có nhiều Thiên Tài trong Tứ Trụ, hoặc người mà trên lá số Tử Vi có Cung Mệnh hoặc Tài hoặc Thân có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, Sát Phá Tham đắc địa, Song Hao Mão Dậu (Chúng thủy triều Đông), Hỏa Linh Không Kiếp đều đắc Địa có Khoa Lộc gia hội ......

- Dùng cho các công ty hoặc tư gia mà chủ nhân làm về cách ngành nghề có tính chất cờ bạc, nên chọn Huyền Không Phi Tinh có các Tổ Hợp Sao là 8 - 7, 9 -7, 7 - 1......Hoặc các cung Sinh Khí (Tham Lang) của nhà ở để đặt.

- Khi cúng nên cúng đồ mặn cùng các thức ăn làm nhiều bằng thịt lợn, chim, cá...nhất định nên có rượu, đồ ngọt....

Đào Hoa

A Tư Tiểu Khang ★Xem Đào Hoa

Trong phép luận hôn nhân qua Tử Vi Đẩu Số, xem "Đào Hoa" rất quan trọng. Luận về Đào Hoa đương nhiên sẽ nói về Sao Đào Hoa trước, tuy nhiên ngoài Đào Hoa còn có rất nhiều Sao khác mang hàm nghĩa tương tự. Luận Sao tất còn phải luận đến Vị Trí, vị trí phân bố trên 12 Cung Địa Bàn mang ý nghĩa khác nhau, ngoài Sinh Khắc Ngũ Hành còn có Đắc hoặc Hãm Địa khác nhau. Vị trí phân bố trên các Cung thuộc Nhân Bàn lại có tính chất chuyên biệt nói nên đặc tính (Dâm Tính) khác nhau của mỗi đương số :

Sao Đào Hoa ở mỗi cung khác nhau, có ý tượng rất khác nhau:

Đào Hoa ở cung mệnh đã có tư tưởng lại cũng có hành động;

Đào Hoa ở cung tử tức thì nghiêng về việc trọng sắc dục;

Đào Hoa ở cung phu thê tất nghiêng về luyến ái bên ngoài;

Đào Hoa ở cung tật ách tất nghiêng về mặt quan hệ xác thịt, đụng chạm;

Đào Hoa ở cung phúc đức tất trọng về mặt cảm quan tinh thần;

Đào Hoa ở nô bộc tất là có ham mê về các tình cảm khuyến dụ từ bên ngoài.

Đào Hoa Có Chia Nội Đào Hoa Và Ngoại Đào Hoa.

Nội Đào Hoa chủ sự lãng mạn trong đời sống vợ chồng, sự sinh hoạt cũng thường xuyên, như các sao Xương Khúc.

Ngoại Đào Hoa tất là chủ các quan hệ luyến ái ngoài hôn nhân, như các sao Thiên Diêu, Hàm Trì.

Gặp Đào Hoa mà đưa đến phá tài, mang tiếng xấu, điều xấu, hôn nhân bất lợi, gọi là “Đào Hoa Kiếp”. Đào Hoa gặp Không,Kiếp, Đại Hao, hoặc gặp xung Tài Lộc Tinh, dễ phát sinh “Đào Hoa Kiếp”.

Đào Hoa mà đưa đến Quan Tư Tù Ngục, gọi là “Đào Hoa Sát”. Đào Hoa Tinh gặp Dương Đà Hình Bạch Hổ Quan Phù Phá Toái cũng coi là các tổ hợp đưa đến tù ngục hình hại, nó rất dễ sinh ra “Đào Hoa Sát”

Cung Phu Thê có Mộc Dục, Hàm Trì, chủ Đào Hoa có tính thực dụng (Nhục Dục Đào Hoa); Liêm Tham Tỵ Hợi (Nam Nữ đồng luận như nhau) hội thêm Sát Tinh, thì đó là Đào Hoa Nhục Dục hoặc thực dụng. Tham ở Hợi Tý gặp Dương Đà là “Đào Hoa Phiếm Thủy”(Bèo dạt mây trôi), cũng là một loại Đào Hoa Nhục Dục; Liêm trinh hội Hàm Trì lại hội Văn Khúc, là Đào Hoa mang tính tinh thần (Tức chỉ mang tính bạn bè mà không có sắc ái tình); Tham Lang hội Đà La là rất mực Phong Lưu, là Nhục Dục Đào Hoa, chủ có việc về tửu sắc; Đồng Cự hội Văn Khúc, là Đào Hoa Tinh Thần, nữ mệnh có thể nghiêng về Đào Hoa thực dụng; Liêm Cự hội Thiên Diêu, dễ có Đào Hoa thực dụng; Hồng Loan hội Thiên Diêu, là Chân Đào Hoa vậy(Mang tính thực dụng).

★Làm Sao Xem Hôn Nhân Không Thuận

Cung Mệnh có các sao bất lợi hôn nhân, như Sát Phá Liêm Tham Vũ Cự Sát Kỵ, hoặc Cung Mệnh Hãm Địa lại thêm Sát mà ba phương Tam Hợp cũng không tốt, hoặc Sát Tinh và Đào Hoa Tinh tụ hợp, thì tình yêu và hôn nhân khó mà được mỹ mãn; Nếu Cung Phu Thê tốt, phần nhiều chỉ về người phối ngẫu giàu sang, cũng được một thời vui vẻ, cuối cùng cũng bởi vẻ mặt, khả năng, thân thể của mình không phối hợp được mà thành ly dị; Nếu Cung Phu Thê lại hãm phá, tất không lợi phối ngẫu, cũng bởi hai bên đều hung hãn không hợp mà ly dị, thậm chí khắc chết người phối ngẫu. Nếu Cung Mệnh vượng cát mà Cung Phu Thê lại hung, tất là vợ chồng không hợp mà ly ly dị, hoặc nhiều bệnh tật. Nếu hai bên vợ chồng Cung Mệnh đều tốt, đa số đều là các cuộc hôn nhân mỹ mãn, nếu là các cung tam hợp của Cung Phu Thê gặp Sát Kỵ, dễ vì các tác động bên ngoài mà phát sinh bất hòa hoặc ly dị. Cung Quan Lộc có Hóa Kỵ Tinh tất chủ phối ngẫu (Vợ hoặc Chồng) đa nghi, hay giám sát do đó dễ phát sinh chia rẽ; Nếu thêm gặp năm nhập hạn mà cung phu thê có hung sát tụ lại, thì người phối ngẫu dễ gặp thương tổn ngoài ý, nếu hung dữ hơn có thể mất mạng, đây thường do các Bản Mệnh của người phối ngẫu có các yếu tố yểu tử, chứ không do bản mệnh khắc nhau.

Nam Mệnh Thái Âm tọa, Nữ Mệnh Thái Dương Tọa, tình cảm khác phái rất mạnh, hay gặp gỡ bên ngoài; Hãm địa Phu Thê không có lực, sinh hoạt không đủ; Thêm Sát vào nữa tất đều chủ ly dị, thậm chí hình khắc mà tổn thương. Cung Mệnh Cơ Lương gặp Sát, cũng chủ cô khắc.

Nhật Nguyệt ở Sửu Mùi đồng thủ mệnh, nam thì không ngại, nữ thì không tốt, nếu các sao hội hợp không tốt lại thêm Sát Tinh, dễ lạc gió bụi cuộc đời.

Nữ mệnh tọa Dần, đối cung Đồng Lương, chủ hôn nhân có sóng gió; Nếu hội Xương Khúc, khả năng sẽ phải lấy người Nam đã qua trải qua hôn nhân.

Nữ Mệnh Cơ Lương tọa Mệnh, không là muộn hôn nhân thì cũng là hôn nhân không thuận. Thái Dương tọa Mệnh ở tại các cung Tuất Hợi Tý, hình phu khắc tử, thêm Sát thì càng chắc chắn.

Cung Mệnh ở Tý Ngọ Mão Dậu, cung Phu Thê cư Thìn Tuất Sửu Mùi, tình cảm không tốt, hay cãi nhau, tụ thiểu ly đa, gia Sát thì càng hung.

Cung Phu Thê gặp Tứ Sát độc thủ, nam lấy vợ hung dữ (Sư Tử Liên Tỉnh), Nữ lấy phải Ác Phu (Chí Phèo Tái Thế) hoặc chồng là dân đã trải qua xã hội đen.

Gặp Lục Sát thủ hoặc giáp, thường là hôn nhân không mỹ mãn, hay khởi ý bất hòa với phối ngẫu, hoặc là người phối ngẫu nhiều bệnh thương tổn, thậm chí dễ khắc thương vong.

Cung Phu Thê có Cô Quả, Phá Toái Tinh cũng là không tốt, không là tụ thiểu ly đa cũng là sinh tử ly biệt. Ba cung tam hợp có Sát Tinh, cũng sẽ làm ảnh hưởng quan hệ vợ chồng.

Các cuộc hôn nhân lần hai thường là cung Phu Thê có hai sao chính tinh đồng cung mà lại gặp Sát xung phá, ví dụ Đồng Cự hội Tứ Sát, ứng với nửa đầu đường đời đứt gánh( Bởi Cự Môn là Bắc Đẩu Tinh), nếu chủ Tinh là Nam Đẩu Tinh tất chủ nửa hậu về sau hôn nhân phá bại (Cung Phu Thê nên chỉ có một Chính Tinh Miếu Vượng tọa thủ, gặp hai Chính Tinh đều miếu vượng, không gặp Sát hoặc thành cách cục cũng tốt, nếu không tất là xấu).

Cung Phu Thê ở Dần Thân Tỵ Hợi lại có hai sao Chủ Tinh đồng cung cũng dễ có mấy độ hôn nhân.

Cung Mệnh hai bên phối ngẫu có Sát Phá Liêm Tham cũng ít hòa thuận. Sát Phá Lang ở cung Phu Thê lại hội thêm Sát, cho dù là miếu vượng, gặp hạn năm không tốt cũng dễ phân ly. (Nữ mệnh nếu thêm Đào Hoa Tinh thì khả năng dễ có khi trở thành Cave).

Bản Mệnh mà ở tại các cung Tam Hợp, Tứ Chính có các tổ hợp Đào Hoa, dễ có duyên với khác phái, nếu gặp cung Phu Thê có Xương Khúc, nam thì dễ ra ngoài mở “Phòng Nhì”, nữ mệnh thì đẽ có cảm tình sâu sắc với một người nam khác rồi sau sẽ tái giá “Trở Cờ”.(Văn Khúc Tinh là công khai, Văn Xương Tinh là trong âm thầm).

Cơ Âm cùng Xương Khúc nhập cung Phu Thê, là cách cục nhiều vợ. Cơ Âm tại Thân, Dương Cục nhập mệnh hoặc cung Phu Thê, chủ nhiều tai tiếng.

Nữ mệnh Thái Dương Hóa Lộc nhập cung Phu thê, đoán trước hay có gặp gỡ bên ngoài.

Cung Phu Thê Liêm Trinh hội Không Kiếp, kết hôn 3 lần vẫn nằm không; Liêm trinh hội Thiên Diêu, cũng không có gì tốt. Nữ mà Liêm Trinh hội Đào Hoa Tinh, rất quậy, song cũng không chắc là Đào Hoa thực dụng.

Cung Phu thê có Liêm Trinh hoặc Tham Lang Hóa Quyền Lộc, hội lại có sự phát sinh tình cảm.

Thiên Lương Hóa Lộc Hóa Quyền, Tham Lang Hóa Quyền ở tại cung Phu Thê, dễ là có phát sinh cảm tình khác; Nữ mệnh đương nhiên bất lợi, trước khi cưới dễ là chồng phát sinh cảm tình với người phụ nữ khác.

Tham Lang Hóa Kỵ, là tình cảm ở vào chỗ khó khăn. Tham Lang Hóa Lộc, người phối ngẫu dễ đi “đánh quả lẻ”.

Cung Phu Thê có Khôi Việt gặp Hữu Bật hoặc Hóa Khoa, nữ mệnh tình cảm sinh hoạt đa đoan, nam thì không ngại.

Cung Phu Thê có Thiên Lương thêm Sát, có ý tượng Ly Biệt, nếu cung Phu Thê ở Tý càng hung hiểm; Cung Phu Thê ở Tý Ngọ có Thiên Lương vào, gặp đối cung có Hóa Kỵ giáp xung, người nữ dề là hôn nhân thoàng như mây trôi.

Nữ Mệnh, Mệnh Phúc tại Dần Thân Tỵ Hợi, tọa là Cơ Âm, Đồng Lương, Liêm Tham đẽ có Đào Hoa, thêm vào một trong các sao Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt thì càng nghiệm lắm.

Mệnh Phúc gặp Thái Dương Thái Âm tọa Thìn Tuất Sửu Mùi, là Âm Dương giao thái, một đời nhều luyến ái, nếu gặp Nhật Nguyệt quay lưng mà mệnh tọa tại Thìn Tuất Sửu Mùi dễ cũng có tính cách biến thái (Quỷ Sứ! Ghét Dễ Sợ !).

Mệnh người phối ngẫu có hai sao Âm Dương tương phản, như Nam Mệnh Âm gặp Dương, Nữ Mệnh Dương gặp Âm, chủ vợ chồng phu xướng mà phụ không tùy, không hòa thuận. Nam Mệnh Thái Âm, Nữ Mệnh Thái Dương tọa, dù là nhập miếu cũng dễ có tình ngoài, duyên đưa; Hãm địa tất không cần nói, nếu hội Sát thì chủ phân ly.

Tiền bạc trong tử vi

A Tư Tiểu Khang

Tiền bạc trong tử vi

...Trong mệnh số một con người thường chia làm hai loại Tài Vận. Một là Chính Tài Vận, hai là Thiên Tài Vận. Cụ thể hơn có thể chia ra là Tiên Thiên Tài và Hậu Thiên Tài, hoặc Tích Tụ Tài và Hoạch Phát Tài.

Trong số các Chủ Tinh của Tử Vi Đẩu Số có một số sao chủ về Tài Vận, như Vũ Khúc và Thái Âm chủ về Chính Tài. Thái Âm là Tiên Thiên Tài, còn Vũ Khúc là Hậu Thiên Tài. Tiên Thiên tài là tiền bạc tự nhiên mà có, bao gồm các tài sản của mình và thu nhập cố định, tài sản tổ tiên hoặc tiền cho thuê mướn nhà cửa mỗi tháng, tiền lợi tức, tiền lương ... Hậu Thiên Tài là do nỗ lực tạo ra, như các việc vất vả tâm lực, sức lực như làm thêm, buôn bán bên ngoài, cổ phiếu, cầm đồ, đánh cờ bạc...

Đại biểu cho sự tích tụ, tích lũy tiền tài là Thiên Phủ Tinh, trong Tử Vi Đẩu Số riêng Thiên Phủ không bao giờ có Hóa Kỵ, bởi vậy nếu nó ở tại Mệnh hoặc Tài Bạch Cung thường được gọi là "Hữu Nhập Vô Xuất" hoặc "Đa Nhập Thiểu Xuất". Người nào mà Đại Hạn hoặc Lưu Niên ở vào cung có Thiên Phủ thì đó là thời kỳ thuận lợi để tích tụ Tiền Bạc.

Đại biểu cho nguồn tiền tài ào ào đến trong Tử Vi Đẩu Số là Lộc Tồn Tinh, Lộc Tồn Tinh đại biểu nguồn tiền nhiều mà không dứt, cho nên nếu có được Lộc Tồn Tinh chiếu Mệnh tất việc làm ra tiền rất thuận lợi, cuộc sống không bao giờ vào bước đường cùng. Song bởi Lộc Tồn Tinh độc tọa Cung Mệnh không tốt, nếu có thì nó chính biểu hiện của một người bủn xỉn keo kiệt, luôn luôn đắn đó về tiền, luôn coi tiền là tối thượng.

Nói về Hoạch Tài, tức các loại tiền đến một cách bất ngờ, từ trên trời rớt xuống, từ dưới đất phụt lên...Khi ấy ở Mệnh Cung cần có Hỏa Tinh và Tham Lang gọi là cách Hỏa Tham, hoặc là Linh Tinh và Tham Lang được gọi là Linh Tham Cách. Đồng Cung là tối ưu, tam phương tứ chính là thứ cách. So về độ mạnh của hai Cách thì Hỏa Tham mạnh hơn Linh Tham. Song có một điều cần lưu ý là phạm cái gì đột nhiên đến cũng có thể đột nhiên đi, nên Hoạch Phát nếu không cẩn thận cũng sẽ thành Hoạch Phá. Đây chính là điểm khác biệt lớn nhất của Thiên Tài so với Chính Tài. Như nếu Cung Mệnh có Hỏa Tham hoặc Linh Tham Cách nếu gặp Đại Vận hoặc Lưu Niên có Vũ Khúc Hóa Lộc, đó thực là trên gấm thêu hoa, muốn nghèo thực cũng khó lắm !...

Nghề nghiệp qua Tử Vi

Nghề nghiệp qua Tử Vi

A Tư Tiểu Khang

Lựa chọn nghề nghiệp trong thời buổi hiện đại thật sự là một việc phức tạp. Có vô số ngành nghề để lựa chọn, có rất nhiều con đường để kiếm tiền. Tuy nhiên điều này đôi lúc cũng là sự bối rối cho mỗi chúng ta vì như đứng trước cả trăm con đường mà lại như chả có đường nào để xác định. Bộ môn học thuật Tử Vi từ sự khảo sát các Tố Chất Tiềm Năng trong con người từ đó chỉ ra các phương hướng thích hợp cho chúng ta lựa chọn nghề nghiệp và tiến thân. Tử Vi dựa trên các yếu tố Di Truyền (Phúc Đức) – Bản Thân (Mệnh, Thân) – Xu Hướng Nghề Nghiệp (Tài Bạch) – Khả Năng Đầu tư và Lưu giữ Tài sản (Điền Trạch) …Từ đó đưa ra kết quả cho một sự lựa chọn khả nang làm việc và phát triển. Sau đây xin lược đưa vài kiến thức:

1. Thiên Cơ tọa cung Cung Tài Bạch – Bán buôn thì phát tài.

2. Thái Dương tọa Cung Tài Bạch nhập Miếu – làm gì cũng rất giàu rất giàu. Nghệ thuật, nhân viên công chức, bác sỹ….

3. Thiên Đồng tại Cung Tài Bạch – Nên thừa tiếp sản nghiệp cha mẹ.

4. Liêm Trinh tại Cung Tài Bạch – Nên làm tại các công ty công cộng hoặc làm gia công.

5. Tham Lang tại Cung Tài Bạch – Nên mở nhà hàng, quán rượu, ca nhạc, karaoke, tình cảm, quán trà, cà phê.

6. Cự Môn tại Cung Tài Bạch – Nên làm về tiếp thị, tư vấn khách hàng, dạy học.

7. Thiên Tướng taị Cung Tài Bạch – Nên kinh doanh cầm cố, cho vay.

8. Thiên Lương tại cung Tài Bạch vượng địa làm nghề cờ bạc có doanh thu.

9. Phá Quân tại Tài Bạch Cung, miếu địa thì giàu có.

10. Văn Khúc Văn Xương tại cung Tài Bạch 0 Kinh doanh các đồ văn phòng, sách, đỗ mỹ nghệ, in ấn, trang trí, quần áo thời trang.

11. Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt nhờ người mà được, nên làm các ngành nghề phục vụ.

12. Thất Sát tại cung Tài Bạch, bạo phát bạo tàn, nên làm những nghề tốc chiến tốc thắng, sau đó chuyển sang bất động sản thì có khả năng giữ được.

13. Kình Dương tại cung Tài Bạch, Tam Hợp với Vũ Khúc Thất Sát Tử Vi Thiên Phủ triều hội đại phú.

14. Linh Tinh có thiên tài.

15. Phúc Đức cung vượng Tài Bạch cung nhược, mà Điền Trạch Cung vượng, chủ vất vả kiếm tiền, nên tích tiểu thành đại.

16. Cung Phúc Đức nhược, cung Tài Bạch vượng, Điền Trạch cung cũng tốt, cuối cùng cũng nhờ cần cù tiết kiệm mà thành nghiệp.

17. Cung Phúc Đức và Cung Điền Trạch yếu, cung Tài Bạch vượng, suốt đời cũng là người bần cùng.

18. Cung Tài Bạch và cung Điền Trạch yếu. Cung Phúc Đức vượng, tiền qua tay đi ngay, là thần tài qua đường.

19. Mệnh Cung, Tài Bạch Cung, Phúc Đức Cung đều tốt, Điền Trạch Cung không tốt, tiền kiếm tốt mà khó giữ.

20. Tài Bạch Cung Phúc Đức Cung có hồng loan thiên hỷ, thích đánh bạc đầu cơ, tài không đọng.

21. Cô Thần Quả Tú nhập Tài Bạch Cung liền phá bại.

Phá Quân

Bàn thêm về Phá quân!!!

SSM78

Theo TTL thì Phá quân tại mão dậu tuổi ẤT tân quý không nguy hại

- Phá tại Dần thân tuổi Giáp Đinh kỷ quý không nguy hại.

- Phá tại Tỵ hợi tuổi Mậu không nguy hại.

- Phá tại thìn tuất ngộ khoa tuần lại trở thành tốt " Trai bất nhân phá quân thìn tuất, ngộ khoa tuần phản ác vi lương" nếu tuổi mậu có cách này thì lại hoạnh tài.

- Phá quân là một Hao tinh, đặc tính của phá quân là hao tán, đổ vỡ dù có thành công đến mấy thì trên bước đường công danh luôn gặp những nghịch cảnh ngang trai và trở lực. (túm lại phá quân là một hao tinh đóng đâu hao đấy, đóng phu thê hao tán phu thê, đóng mệnh gây hao tán đổ vỡ xa cách lục thân) người có Phá thủ mệnh nên xuất ngoại thì hợp cách.

- Người Phá quân luôn sống trong môi trường đầy dẫy sự nguy hiểm, cạnh tranh, giữa sự sống và cái chết với những cám dỗ dình dập, họ phải đối mặt với điều này hàng ngày như cơm ăn áo mặc vậy. chính điều này đã hình thành trong con người phá quân một tính cách không chịu khuất phục dù gặp bất cứ nghịch cảnh nào đến với mình, và họ có thể bất chấp thủ đoạn chỉ để tồn tại... ranh giới giữa THIỆN VÀ ÁC của người có phá quân rất mong manh, (chỉ cần buớc một chân là có thể bước qua ranh giới đó, quan trọng là người đó bước sang bên nào mà thôi, vì vậy đối với nguời có phá quân thì ý trí và nghị lực thôi chưa đủ mà còn cần phải lấy chữ Đức làm trọng, lấy luân thường đạo lý làm lẽ sống thì mới mong đem đến sự thành công toàn vẹn ).

- Đặc biệt trong suy nghĩ người phá quân khi chưa chọn được cho mình hướng đi họ luôn bị giằng co giữa lý tưởng sống và Định lệ xã hội, luôn phải đấu tranh để lựa chọn giữa thực tại và luân thường, vì vậy chỉ cần bản thân họ cảm thấy có một lý tưởng rõ ràng thì họ có thể bất chấp tất cả để đạt được mục đích và lý tưởng của mình, dù phải trả giá như thế nào đi chăng nữa, khi họ đã bất chấp thì cái luân thường đạo lý được họ ném vào xọt rác không thương tiếc!

- Điểm yếu của người có phá quân là sự không phân định rõ ràng được ranh giới mình đang đứng, thích nge những lời tâng bốc, nịnh hót vì thế dễ gây ra sự ngộ nhận ảo tưởng điều này làm người phá quân rất dễ đi vào con đường lầm lạc vì chính mình bị cuốn theo không chủ định (đâm lao phải theo lao).

- Vì vậy người phá quân đặc biệt cần Khoa và Tuần để kiềm chế, biến cải, khoa chỉ về học thức, sự nhận thức đánh giá một cách đúng đắn giữa đúng và sai giữa thiện và ác, Tuần kiềm chế bản năng xấu, tính nỏng nẩy bất chấp của phá quân...(ví như thú rừng được người thuần chủng vậy).

- Rất cần Thiên lương, lộc tồn, hoá lộc, thiên hỷ để biến cải, kiềm chế tính điên của phá quân. (Tất cả chúng đều mang chức năng giải hoạ cho phá quân bằng những đặc tính của mình thiên lương chỉ về sự nhân từ, đức hạnh, nhân đức, lộc tồn cẩn trọng may mắn, nhậy bén, hoá lộc thiên hỷ chỉ sự may mắn và ứng biến trong mọi hoàn cảnh.)....

Tóm lại người phá quân như một anh cảnh sát được gài vào hàng ngũ địch và khi anh ta sống trong hàng ngũ địch, anh ta được đối xử tử tế và chân thành, anh ta đã nẩy sinh tình cảm với đối phương và trong anh ta luôn có sự giằng co giữa thiện và ác, giữa những người đồng đội đang chờ đợi anh ta và những người bạn hiện tại đối xử với anh ta thực lòng và chân thành ở bên cạnh anh ta....nên chỉ cần xẩy chân là anh ta sẽ đi theo một chiều hướng khác, lúc này anh ta cần phải phân định được rõ ràng lý tưởng của mình, giữa đúng và sai, giữa thiện và ác, luân thường và đạo lý (nếu không có sự kiềm chế soi sáng họ rất dế trở thành "tôi bất trung con bất hiếu" ranh giới của họ thật sự mong manh!!!

Thiên Lương

Thiên Lương

An Na

Hôm qua lúc 16:19

Hôm nay mình có đọc bài của một bạn nói: Sao nào nói nên người đàn ông hết lòng vì vợ, vì con". Và có nhiều người cứ hô hào Thiên lương là số 1. Nhưng mình một người có cung phu ăn Thiên Lương miếu (mà bản mệnh mình hỏa) tự nhận thấy đó chỉ là hão danh thôi. Có thể nói tính cách của chồng Thiên lương sau 4 năm chung sống như này:

Nói thế này thiên lương thích vác tù và hàng tổng. Rất tốt tử tế với người khác ngoài vợ con. Đổi lại có thể là anh bế trẻ nhỏ đi chơi, trông chúng, cho ăn cho ngủ đàng hoàng- nhưng con là con của hàng xóm nhờ trông hộ.

Thiên lương lại không thích làm việc nhà chuyên lo truyện bao đồng nên việc cơm nước, giặt giũ, con cái đều không phải việc đàn ông, giúp bạn bè, anh em, hàng xóm mới là việc nên làm. Còn vợ con mình thì nó tự làm tốt rồi.

Thiên lương không bao giờ là anh chàng Soái ca trong các câu chuyện Tiểu thuyết Ngôn tình: Vì TL thích được người khác quan tâm nhưng không biết quan tâm người khác- khá là vô tâm. Tuy họ rất tốt nhưng cái kiểu sến sẩm như hôn, thơm, ôm eo hay thổi nến- mua hoa hay bất cứ cái gì gọi là ngôn tình bị dẹp, dẹp ngay, điên à…

Thiên lương thích mắng người- không chịu được người khác chỉ trích.
Cao cao tại thượng cái gì cũng hơn vợ mới chịu hay chê bai vợ. Hay tỏ mình cao ngạo kiến thức hơn tài giỏi hơn để dạy đời với vợ.

Thiên lương vô tâm nhưng luôn luôn coi mình là trung tâm của vũ trụ: Mặc dù tốt bụng chẳng làm hại ai từ con kiến trở đi. Nhưng không phải là Nam thần số 1.

Thiên lương có sự chiếm hữu ngầm cực mạnh. Và khi động đến sự tự trọng thì có kiểu dỗi lâu lắm.
Lại ghen ngầm và dù sai dù đúng không bao giờ làm lành trước.

Thiên lương bình thường kiềm chế cảm xúc rất tốt nhưng khi quá giới hạn hay chửi bậy.
Tuy nhiên vì có ck Thiên Lương nên bạn đi đâu cũng dược khen là số tốt vớ được chồng hiền lành tử tế ai cũng quý cũng yêu.

Và dù bạn có nói xấu chồng với ai kể cả mẹ đẻ thì không bao giờ có người bênh bạn.

Đó là suy nghĩ của mình các bạn cứ thoải mái ném gạch (Chồng bạn ăn sao nào không quan trọng. Quan trọng cái cung phu của bạn ăn sao nào và thì ck sẽ đối xử ứng với cái cung phu đó) P /s: đây chỉ là một bài nói xấu chồng thôi. Các bác cứ yên tâm em vẫn yêu chồng em lắm./.

shtar Pinky Cung phu mình có Thiên Lương, mình cũng từng quen 1 một Thiên Lương trong 3 năm. Và mọi điều mình nhận được trong 3 năm đó hoàn toàn đúng như chủ top nói. Thêm 1 điều nữa là TL rất giỏi biến mình thành nạn nhân, trong khi họ lại là người cầm dao đâm người ta. Người đó phản bội mình, nhưng lại gieo tiếng ác cho mình. Thành ra mình bị phản bội nhưng tất cả đều do mình gây ra chứ không phải là lỗi do người đó. Ôi cạch đến già

Doan Thao Van Em quen nhiều người thiên lương, thấy rất nhiều người sâu sắc biết cách sống, nhưng hay nghĩ nhiêù quá, hay tâm trạng, nóng và không hiền lắm Tuệ An: Mọi người cứ bảo con gái thiên lương hiền lành. Em thấy chả hiền tí nào, còn chưa nói là đanh đá ghê gớm. Em chỉ thấy sống biết điều, không thích gây thị phi, ko thích cãi chửi nhau với ai. Luôn nhường nhịn. Và coi như mình sai mình không tốt để mọi chuyện được yên bình ( thực ra họ sai lè lè ra rồi nhưng cứ phải nhịn cho qua chuyện coi như mình sai). Vì không thích làm lớn chuyện lên. Lời của 1 cô gái thiên lương tâm sự.

Phong Thủy trong Tử Vi

Người xưa có câu nói về nguyên tắc của mệnh số là: nhất mệnh, nhị vận, tam phong thủy, cho nên nhà cửa đất đai, sự nghiệp đầu tiên của chính mình là Cung Mệnh do tinh cha huyết mẹ cùng duyên nghiệp của mình, là gia tài, là trú xứ đầu tiên trong đó bao gồm cả Cung an Thân và Cung Phúc Đức. Vì vậy việc bố trí phong thủy đều phải lệ thuộc vào Cung Mệnh trước tiên. Mệnh có vững và giàu mạnh tức là nền móng của ngôi nhà mình mạnh, sự nghiệp mới lâu bền, nhà cửa đất đai mới vững vàng.

Theo chu kỳ của một đời là một lục thập hoa giáp, tức là chu kỳ đại vận đi từ Mệnh đến Thiên Di, khoảng giữa của nó là Cung Điền hoặc là Cung Tử, tùy theo Dương nam hoặc Âm nam. Như vậy Cung Điền Trạch hoặc Cung Tử là cung rất quan trọng để luận đoán cho hậu vận. Từ đó ta có thể xem cung Điền Trạch là Cung Phúc Đức thứ nhì, còn Cung Phúc Đức chính của một trong 12 cung chỉ ảnh hưởng đến nửa giai đoạn đầu của đời ngườị Một Cung Điền tốt sẽ giúp ích rất nhiều cho hậu vận.

(Ghi chú: Nếu lập luận này đúng ta có thể suy ra được dựa trên lý Dương Trung Hữu Âm, Âm Trung Hữu Dương, là cung nào cũng phải có cặp đôi một hiện một ẩn, một thực một hự Do đó, ta có thể xem Cung Phụ Mẫu là Mệnh của ta, tức một Cung Dương và một Cung Âm. Phúc và Điền là một. Quan và Nô là một. Di và Ách là một. Tài và Tử là một. Thê và Bào là một. Như vậy có thể hợp lý chăng khi luận một cung như Cung Phu Thê, ngoài luận như bình thường của người xưa, ta đem thêm các sao ở cung Bào vào Cung Phu Thê để mà luận. Với lý này thì ngoài các thể Nhị Hợp, Lục Hại, Tam Hợp, Xung Chiếu đã có sẳn như một quy luật muôn đời, phải chăng còn có quy luật của hai cung liền kề. Vấn nạn này nó có thể giúp ích rất nhiều khi luận đoán Đại Vận !

Theo thiển nghĩ trong khoa Tử Vi Đẩu Số phải có phong thủy riêng biệt của nó mà ta rất khó lòng khám phá ra được, vì không có lẽ nào hai người có cùng một tuổi mà lại có cùng một phương hướng tốt khi tháng ngày giờ sinh của hai người đó hoàn toàn khác nhaụ Huống chi sao chủ của cha và mẹ hai người khác nhaụ Vấn đề này rất khó tìm vì ta không biết bắt đầu từ manh mối ở đâu. Nên tạm thời ta bố trí phương hướng tốt xấu theo Bát Trạch Minh Cảnh dựa trên Can Chi của năm sinh. Phần việc chỉnh trang về phong thủy thì ta thêm hay bớt dựa vào các sao thiếu hay dư nằm trong tam hợp Mệnh và tam hợp Điền Tra.ch.

Tất nhiên ngũ hành của các sao chính tinh và các sao trọng yếu như Tang Hổ Kình Đà Không Kiếp Kỵ Hình Riêu là lựa chọn đầu tiên sao nào hợp với hành mệnh cần nghiên cứu trước để điều chỉnh và luận giảị

Ví dụ:

Người Mệnh Mộc cần phải xem đến Tham Lang, Tang Môn, Thiên Lương.

Người Mệnh Hỏa cần phải xem đến Thái Dương, Không Kiếp.

Dù các sao này nếu không nằm trong tam hợp Mệnh và Điền Trạch mà nằm trong các cung khác thì chính những cung này cũng gây ảnh hưởng đến phong thủy khi muốn điều chỉnh, tức là ta phải làm sao cho các cung đó được yên ổn thì đó cũng là cách điều chỉnh phong thủy vậỵ

Vấn đề điều chỉnh phong thủy hoàn toàn không có nghĩa đổi một vận số hoàn toàn xấu trở thành hoàn toàn tốt. Điều này hoàn toàn trái với luật nhân quả và nghiệp báọ Vấn đề điều chỉnh phong thủy chỉ mang ý nghĩa là thuận theo sự tốt xấu của các cung mà hành xử trong trạng thái vô cầu và chờ đợi, tức là sửa tâm chứ không sửa vật. Việc sửa vật chỉ là phần che dấu tạm thời trong một khoảng thời gian nào đó. Việc này ví như là một người bệnh nặng phải cần có gậy để mà đi, khi hết bệnh thì buông bỏ nó.

Việc điều chỉnh phong thủy đều phải dựa trên các cách của Tử Vi, sự cần thiết của các sao hổ trợ của mỗi cách.

Trong khoa Tử Vi hiện tại chỉ tìm được các kết quả như sau:

Tử Phủ Vũ Tướng thì rất cần Tả Hữu Đào Hồng, Tấu Thự Tả Hữu nghĩa đen là ruộng nhiều xung quanh có bờ vuông vức, Đào Hồng là cây trái, là sự trẻ trung, màu sáng nên cần phải ở những chỗ đông đảo, vùng trọng yếu như thủ đô, tỉnh lỵ, vùng đất được quy hoạch rõ ràng, đất đai có nhiều cây cỏ màu mỡ, nền phải cao, nhà phải có hàng rào vững chắc và đẹp đẽ. Trong nhà có nhiều phòng được ngăn như các thửa ruô.ng. Chỗ cao nhất ngôi nhà hoặc ở khoảng giữa là phòng khách hoặc phòng làm việc của mình. Nguyên do là Tử Vi mà ngộ Tấu Thư được gọi là cách Thần Đồng Phụ Nhĩ, Tấu Thư và sao Dưỡng là cái án thư tùy theo nó đóng ở cung nào thì ta làm gia tăng cung đó. Ví dụ: Tử Vi ở cung Con Cái thì ta dùng bàn học của chúng để bố trí. Theo thiển nghĩ chính sự bố trí này mới gọi là cách điều chSát Phá Tham thì rất cần Thai Cáo Đào Hồng Khôi Việt, nên xem ở phần dướị

Cơ Nguyệt Đồng Lương rất cần Xương Khúc Long Phượng Khôi Việt.

Khôi Việt là quý nhân cho nên trong nhà bàn ghế phải tốt, cửa nhà, cửa sổ phải cao có rèm đẹp, trải thảm tốt, quý phái mà không màu mè, hoặc có ảnh tranh nhà cao cửa rộng hoặc có hình của các vĩ nhân hoặc người ơn của mình.

Xương Khúc là chủ về học trò, anh em, giấy tờ, câu đối, hoành phi, trường học, thư tín, sự uốn lượn như các loại dây leo, tủ sách, tranh thư pháp. Các nơi này phải sạch sẽ sáng sủa, gia đình có nhiều người đến, ở gần anh em hoặc người trong họ, người đồng hương, bàn ghế giường tủ có hoa văn. Tất nhiên việc này đều dựa vào ngũ hành của bản mê.nh. Như Mệnh Hỏa thì hoa văn có hình đầu nhọn diễn tả sự vươn lên. Mạng Kim hoa văn, hình dáng trong nhà dùng nhiều hình tròn. Mạng Mộc dùng những đường sóng dọc. Mạng Thủy dùng những đường uốn lượn. Mạng Thổ dùng những vật dụng thấp.

Quan Phúc là đình chùa, bàn thờ, tùy theo thuộc về cách nào thì ta bố trí dựa vào các sao trung tinh cần thiết của cách đó để gia tăng hoặc điều chỉnh.

Riêng sao Thất Sát do đây là sao chủ về hành động không ngừng nghỉ, chỉ sự lật đật suốt đời không hết việc cho nên cần phải có các hình tượng, đồ đạc hoặc súc vật ở thế ngồi, nếu cần bố trí cung kiếm thì đều có vỏ bọc hoặc cho nằm ngang.

Sao Thiên Tướng hóa khí thành ấn, bất luận giàu hay nghèo nền nhà bao giờ cũng phải thật bằng phẳng, càng có nhiều hoa văn thì càng tốt vì Thiên Tướng mà ngộ Đào Hồng là người đẹp trai.

Riêng về nhà bếp, nhà tắm, nếu dựa theo 6 trục để mà luận thì cung Mão mới chính là cung Táo Quân. Cung này hoàn toàn không chỉ mang ý nghĩa là nhà bếp mà còn chủ về sinh hoạt, đời sống tình cảm, sự giàu nghèo, nói chung là chủ cái gia cang của mình. Cho nên nhà bếp luôn luôn phải lấy tam hợp Hợi, Mão, Mùi để mà luận. Nói về hướng thì dựa vào Bát Trạch Minh Cảnh. Nói về điều chỉnh, trang trí thì dựa vào các sao nằm trong tam hợp. Tất nhiên khi gia tăng hoặc điều chỉnh ở Hợi Mão Mùi sẽ xảy ra trường hợp mâu thuẫn với tam hợp Mệnh hoặc Điền cho nên tam hợp nào thuộc tam hợp Thái Tuế thì lấy đó làm chánh, kế tiếp là lấy tam hợp Mệnh và Điền hoặc cung Táo Quân.

Thiên Mã dù bất luận ở cung nào cũng chủ lối đi ngoài đường cũng như là đường vào nhà, nếu không có sao xấu thì chỉ cần làm bằng phẳng và sáng sủa thì tốt, nếu một đường thẳng vào nhà nhìn tới phía sau cũng được, xe cộ dùng loại tốt. Nhưng nếu nó bị Tuần, Triệt án ngữ, hoặc gặp Không Kiếp Kình Đà thì lối đi vào nhà phải có một hai khúc quẹo, hoặc có trải sỏi trải đá, có các chậu hoa, tùy theo ngũ hành của bản mệnh mà chọn hình dáng lối đị Nếu có Hình Riêu hợp chiếu sẽ là lối ngập nước hoặc có đường ống nước nằm ở dưới hoặc có giếng, trũng, điều chỉnh bằng cách lấp cho bằng phẳng, giếng có đậy nắp, trên có hàng giây leo để giữ độ ẩm, xe cộ dùng loại bình thường hoặc đồ cũ. Nói chung là dựa theo cách của Tử Vi mà luận như Mã Hóa Lộc, Mã Linh Hỏa, Mã cùng đường

Tử Tướng Thìn Tuất tối cần Kình Dương nên trong nhà rất cần cặp voi đứng.

Đà La là cái giá để đựng viết, mực, cái mỏ cầm canh, tức là đồng hồ phải là loại tốt và đẹp. Nếu gặp Hóa Kỵ đồng cung thì nên dùng đồng hồ bằng gỗ có lên nước bóng thì giải được.

Hồng Loan là vải vóc, nếu ngộ Không Kiếp thì chỉ nên dùng vải có một loại màu không có hoa văn để ăn mặc và trang trí.

Bất luận Mệnh hay Điền bị Tuần hay Triệt án ngữ thì trước nhà phải có hàng rào cao che phủ, cửa chính thường đóng kín, đi vào nhà bằng cửa phụ hoặc ngõ sau, ngõ phu..

Tử Vi

Ông tổ, dinh thự, người có danh chức lớn, quý nhân, ân nhân, ông xếp, nhà có bậc thềm cao bên trong có khu đất hình tròn, cỏ mọc, hình oval, hoặc có hòn non bộ, có cây cao, hoặc có cột cờ cao, nhà từ đường, hương hỏạ

Tử Vi ở Tý, Đới, Thai, Linh, Kình, Dưỡng: Nhà mặt tiền thì nhỏ, chiều ngang thì hẹp, nhưng đi vào phía sau thì đất lại phình lớn ra, thích hợp với người làm nghề mộc, chăn nuôi, nha khoa, thuế vu..

Mệnh Tử Vi Thất Sát, Điền có Hình Riêu: Nhà ở gần sông lớn, nằm ngay tru..c ngã ba lộ, nếu nhà ngó về hướng Bắc hoặc Đông Bắc thì rất tốt. Nếu không có sông thì khi mưa xuống hay bị ngập. Thích hợp với những người làm nghề cấp thủy, bia, rượu mạnh, làm giá sống, nghề pha chế thức ăn, nghề chế biến công nghiệp.

Cung Quan Tử Vi ở Ngọ có Linh Hỏa đồng cung, bố trí theo các tiệm kim hoàn bán vàng như các sách nóị Nếu lại có Không Kiếp hợp chiếu thì nhà phải có nhiều ảnh, sưu tầm máy chụp hình.

Thiên Cơ

Bất luận là cung gì, nếu Cự Cơ ở Tý, Ngọ mà giáp Linh Hỏa, nếu đặt bếp khi đi vào đến bếp giữa đường hay quẹo trái hay phải rồi mới nhóm lửa thì trong nhà sẽ có người chết bất đắc kỳ tử, công danh sụp đổ bất ngờ, bệnh thần kinh, chết nước.

Sao Liêm Trinh

Ý nghĩa là bên ngoại, ông ngoại, cậu, bộ xương sườn, các loại cửa có chấn song hàng dọc, trái cây, bông hoa, kẹo, bánh, dầu thơm, nhang khói, nước ngọt, rượu, bia, các loại nước có gaz, loại đất cao có hình mũi nhọn, đất hình như mũi tàu ở Phú Lâm, hoặc gồ ghề, dây xích, còng số 8, các trò chơi domino, cờ tướng, 52 lá bài, hột xí ngầụ

Liêm Phá đồng cung:

Nhà nằm ngay ngã ba như hình chữ T, hướng thích hợp là trong nhà ngó ra ngoài đường thì hướng trước mặt là hướng Chánh Đông mới tốt. Do cung Điền luôn luôn có sao Thái Âm nên thềm nhà hoặc cửa chánh phải có hình cánh cung nhô ra ngoài đường mới tốt, hoặc cửa nhà là cửa xoay vòng như trong các tiệm ăn.

Liêm, Đào Hoa, Thiên Không, Mộ, Linh, Hỏa: Khu vực trồng dừa, sở nông nghiệp.

Liêm Tướng, Xương, Khúc giáp Kình: Cơ sở văn phòng lo về giáo dục.

Sao Tham Lang

Ý nghĩa là phái nữ, sự diêm dúa, màu mè, thịt heo, chó mực, đầu gối, hoặc ống chân, xương ống, cái nách, lông nách, lông tay, lông chân nhiều, vùng đất cao cây cỏ mọc rậm rạp, hoặc giàn hoa, giàn bông để che mát, ăn uống, cao lâu, tửu quán.

Cung Phụ Mẫu có Vũ Tham đồng cung, Thai, Cáo, Lộc Quyền: Trước mặt nhà là đại lộ có cây nhiềụ

Mệnh có Tham Lang, Tuần hay Triệt án ngữ, Mộc Dục, Long Trì, Địa Kiếp: Trước nhà là khu vực có ao, đầm, khu giải trí có liên quan đến nước, nhà có trưng bày ghe, thuyền. Tham lang Tý Ngo đồng cung hay giáp Linh Hỏa cũng vậỵ

Sao Cự Môn

Ý nghĩa là nhà cửa, cái miệng, cửa ngỏ, bộ phận sinh dục, bác ruột, ông bác, chồng, cơ quan làm việc, dáng đất hình thù ngay ngắn, vuông vức, vùng đất có màu vàng, sự rạn nứt ở các đồ vật, thịt bò, thuốc lá, ma túy, cái hòm, rương, quan tài, làng xóm, có thêm Văn Xương, Văn Khúc là trường học, có thêm Đào Hoa, Hóa Lộc, là chợ búa, phồn hoa đô hội, đồng cung với Thái Dương, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Thái Tuế, là cơ quan công an, quân sự, lò rèn, khu công nghiệp.

Mệnh Cự Môn ở Ngọ, cung Tuất có Linh Tinh: ƠÛ hướng Đông Bắc thì tốt, gần chợ hoặc gần trường học. Để ý sao Thái Dương nếu sáng sủa thì là chợ to, nếu hãm thì là chợ nhỏ, hoặc nhà ở trong hẻm.

Cự Đồng Sửu Mùi Suy Không Kiếp Đới Linh Hỏa: Nhà ở ngay ngã tư đường lớn, trung tâm đô thi..

Thiên Lương

Ý nghĩa là phụ mẫu, người lớn tuổi, cái thoi dệt vải, sự giao thoa, sự vận hành ngang dọc tới lui, lên xuống, ngã tư đường, cái bụng, các loại rau, các loại cây thuộc họ dây leo, miếu thổ thần, thổ địa, đình thần, vùng đất có nhiều bụi hoặc cát, có nhiều đường đi đan xen như bàn cờ, ngoằn ngoèọ Đi với Thái Âm, Thái Dương, Linh Tinh, Hỏa Tinh là cái lẩụ


Thiên Lương Tang Đà Triệt, Linh Tinh: Bún, hủ tíụ Khi nào ở đường lớn vắng vẻ thì mới làm nên, ở đường nhỏ thì lên đến mấy cũng bần hàn.


Thiên Lương, Linh Tinh, Kình, Đà, Thái Tuế: Khu vực mua bán hoặc làm giày dép, xe cộ, máy móc, máy vi tính nếu là mạng Hỏạ Các mạng khác thì là rau quả cây tráị Nên nếu Mệnh hay Điền có cách này thì chỗ để giày dép hay máy móc phải thật tốt ngăn nắp, hoặc nhà có nhiều tranh ảnh về cây trái hay bàn tiếp khách có các đĩa cây tráị


Mệnh hay Điền có Nhật Lương ở Dậu, Thiên Không, Không Kiếp, Kình, Đà, Xương Khúc: ƠÛ đấy có nhà làm vỏ xe, bình hơi, bình gaz.


Thiên Mã ở cung Quan thì tiếp khách phòng khách phải thật tốt đẹp. Nếu Mã bị hãm hoặc bị Tuần Triệt thì làm ăn hoặc tiếp khách phải ở phía sau nhà. Nếu tiếp ở phòng khách thì chủ nhân ngôi nhà ngồi lưng xoay ra ngoài đường mới ăn.


Đặc biệt trong Tử Vi sao Thiên Mã rất là quan trọng để ấn định sự thịnh suy sướng hay khổ của cả một đời, nhất là biết được hậu vận, đôi khi không cần phải xem tất cả các sao khác. Cách xem là an sao Thiên Mã theo giờ, tọa thủ ở Cung nào thì lấy các sao ở tam hợp cung đó mà suy khi phối hợp với Cung Mệnh, Thân và Phúc bất luận người đó là tuổi gì. Ví dụ: Sinh giờ Tý thì an Thiên Mã ở Dần, Sinh giờ Dần thì an Thiên Mã ở Thân, Sinh giờ Mão thì an Thiên Mã ở Tỵ ………….. đây là vấn đề kinh nghiệm nghiên cứu dựa trên nhiều lá số đã lâu chưa dám quyết đoán hoàn toàn cần phải nghiệm rất nhiều nữạ


Thất Sát


Ý nghĩa là cái đầu, hạt đậu nhỏ, đau trĩ, cây đòn dông, xà ngang hoặc các loại cây dầm, dầm nhà, loại đất khô nóng màu đỏ vàng, các loại cây dài nằm ngang.


Thất Sát, Quan Phù, Kình Dương: Đi công tác, đi ở nhờ vào nơi khác để làm việc, khách trọ chánh phủ, trung tâm tu nghiệp và bồi dưỡng công chức.


Thất Sát, Kiếp Sát, Phá Toái, Kình, Đà, Linh, Hỏa: Đồ tể, lò sát sinh, chài lưới, lò mía đường, khu chế biến xuất khẩụ


Cung Điền có Vũ Sát đồng cung tại Dậu, Đồng Lương có Quan Phúc, Kiếp Kỵ, Riêu: Đứng trong nhà ngó ra ngoài đường thì nhà bên tay mặt là nhà người làm về y sĩ, bệnh viện, hoặc trạm xá.


Cung Điền hoặc cung Mệnh có Vũ Sát đồng cung tại Dậu mà có đầy đủ sao tốt thì chọn nhà ngó về hướng Tây Bắc thì tốt nhất.


Phá Quân


Ý nghĩa, tình nhân, vợ chồng, ngã ba hình chữ T, ở trước nhà cửa có ống cống, đường cống ngầm, hoặc đường trước nhà nhỏ hẹp, gần ngã ba, khu vực không có hình dạng nhất định, đùi, vế, bắp chuốị Đi với sao Linh Tinh, Hỏa Tinh là chủ bệnh thần kinh, nhà bếp, lò, quặng dầu, các loại nước tinh chế như dầu thơm, nước mắm, rượụ


Mệnh có Phá Quân, Thanh Long: Nhà ở ngay ngã ba hoặc ngay khúc cong. Chính vì vậy nên luôn luôn Cung Điền là sao Thái Âm.


Thái Âm


Ý nghĩa là phái nữ, là bà, mẹ, con gái, cháu gái, âm hộ, tử cung, kinh nguyệt, nhà cửa, mắt bên phải, bộ óc, trí tuệ, thần kinh, lương tâm, dáng đất cao, dài, uốn cong như hình bán nguyệt, hoặc lối đi vào nhà có hình cong, ngoằn ngoèo, thức ăn mặn, chùa Bà, Phật Bà, mồ mả, hoặc vùng nghĩa địa, đầm lầỵ


Thái Âm, Hình, Riêu, Không, Kiếp: Vùng đất có mồ mả, có nhiều đồi cao lên xuống chập chùng, đất úng thủy, ruộng sâu, nhà sàn, nước tương, nước mắm, khu công nghiệp hóa chất, khu giáo xứ, vùng có nhiều đặc sản về cây tráị.


Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung ở Tý, có Linh Hỏa tam hợp: Nhà ngay trước cửa có miệng cống hoặc hệ thống gas hoặc vòi nước chữa lửa, bên hong có ngỏ hẽm. Hạn đến cung Điền mà có bộ sao này, nếu muốn làm ăn thì phải ra lề đường, vỉa hè bán mới khá. Hoặc cửa hàng thập sập xê.. Hạp với các cơ sở làm về nghề hấp, nồi hơi, nghề phải thức khuya dậy sớm. Bán hàng rong rất hạp. Nếu có thêm Tang, Hổ, Kình, Đà là nhà đó con cái chết non, chết bất đắc kỳ tử, bệnh nan y, bệnh hoạn liên miên vì đây là ý nghĩa của nghĩa địa, nhà quàn, miễu thờ người chết ở lề đường. Nếu có thêm Không Kiếp thì lại càng chính xác. Do đó, phải bán hàng rong hoặc ra lề đường, vỉa hè làm ăn là cách giải xấụ


Thái Âm hoặc Tử Vi, Xương, Khúc, Đào, Hồng, Quang, Quý: Khu vực có nhà văn hóa, rạp hát, vũ trường, quán rượụ


Thái Âm ở Dậu, Long Trì, Đà Cáo, Hổ, Mộ, Kỵ: Vùng đất có đường nổi cao, uốn cong, hai bên đường là vùng đất thấp.


Cung Quan Thái Âm ở Hợi Linh đồng cung giáp Không Kiếp: vùng đất đen, đất khu lò than, lò rèn, nghĩa địạ Nếu thêm Quan Phúc là khu vực tiếp cận là nhà từ đường, đất thánh, nhà thờ tổ. Nếu chỉ có Không Kiếp Hao Tuyệt là nhà phải có cây xanh thật nhiều mới ăn. Nói chung hễ Không Kiếp ở đâu thì cách chế tài là dùng cây xanh cho nhiều, đóng ở đâu thì chế ở đó, riêng ở Phúc thì dùng bàn thờ có hoa trưng bày cho nhiều, ở mệnh thì dùng quần áo, phòng làm việc, ở Nô thì dùng phòng khách, ở Ách thì dùng phòng ngủ.


Thái Dương


Ý nghĩa là bàn chân, thận hỏa, mắt trái, xe cộ, súc vật, con ngựa, cơ giới, máy điện toán, đất bằng phẳng, màu nóng, da ngăm đỏ, râu rậm đen, là ông, cha, chú, con trai, cháu trai, thần kinh hệ, bộ não, huyết áp, trí tuê..


Thái Dương, Kiếp, Hỏa, Phi Liêm, Long Trì: Nhà sàn bên sông.


Thái Dương, Đà, Hổ, Tuần, mạng Hỏa: Nhà làm máy cày, xe hạng nặng, sơ giao thông vận tảị


Thái Dương ở Tỵ, Không, Kiếp, Kỵ, Hà Sát, Đà Linh Hỏa: Hạp vùng biển, làm tàu bè, hàng hảị


Thái Dương ở Hợi mạng Kim, Không, Kiếp, Kỵ, Hà Sát, Đà Linh Hỏa: Hạp vùng núi, khu mua bán hoặc chế tạo xe máy cơ khí, cơ giớị


Âm hoặc Dương, Cự Môn, Thiên Đồng, Xương, Khúc Linh Riêu Đà Mộ Kỵ, Không Kiếp: Khu vực nhà gần nghĩa địa, nhà thờ, nhà bán hòm. Nếu không như vậy thì trong nhà phải có bàn thờ thật tốt và uy nghiêm mới ăn.


Vũ Khúc


Ý nghĩa là người lính, nhân công, người giúp việc, đệ tử, vây cánh, cái rốn, nút ruồi, quả cầu thủy tinh, nhạc khí, xương cốt, các loại đồ vật, nhà cửa, đất đai có hình tròn, hình bán nguyệt, ở người nữ là cặp vú.


Do nghĩa là lính nên Mệnh hay Điền có Vũ Khúc thì trong nhà cần có nhiều tranh ảnh về người mới tốt.


Thiên Đồng


Ý nghĩa là phái nữ, đất trũng, xung quanh có nước, đầm, thung lũng, ao, hồ, đập, kênh mương, đường thoát nước, bộ máy tiêu hóa, bao tử, chòm xóm, băng nhóm, hội ái hữu, thích ăn uống, nhậu nhẹt, tế lễ, đình đám, cúng bái, xem quẻ.


Đồng Lương Tỵ Hợi, Riêu, Kỵ, Hao, Tuyệt: Khu vực làm ống cống, là ống cống, kinh, mương nhỏ đan chằn chịt có nước chảy ngầm.


Đồng Lương ở Dần Thân, Linh Hỏa đồng cung Không Kiếp Tuần Triệt án ngữ: Khu vực nhà ở bến nước, bến đò, vùng vịnh, bến sông, bến cầụ


Thiên Tướng


Ý nghĩa là đầu, mặt, đôi vai, cái ấn, nền đất cao ráo vuông vức, cơm, gạo, người làm quan, cây bút.


Thiên Phủ


Ý nghĩa là nhà kho, két sắt, đồ đựng tiền, các loại thức ăn thịnh soạn, sang trọng, đất gần núi, lá lách, gan, người có tiếng tăm, quý nhân, ân nhân.


Mệnh có Thiên Phủ bị Tuần án ngữ, cung Di có Thanh Long, Long Trì, cung Điền Cự Nhật ở Dần có Thiên Không, Đà La: Nhà trước mặt là sông. Hoặc Mệnh có Thiên Phủ hạn đến gặp Tham Lang, Địa Kiếp, Hình, Riêu thì mua hoặc đến nhà như vậỵ Nếu lại có thêm Phục Binh thì con sông hoặc con mương ở sau lưng nhà.


Cung Mệnh hoặc Phúc có Thiên Phủ ngộ Không, Kiếp, Quan, Phúc: Thì nhà ngó về hướng Tây mới tốt. Nếu nhà ngó về hướng Nam thì thịnh vượng, nhưng trước mặt bên kia đường nếu là trại lính, là chung cư, nhà cao tầng mà Mệnh hay Phúc có Kình Đà thì khá giả không lâu bền.


Lưu Hà, Địa Kiếp:


Vùng nước lụt, đầm lầy, đất không có chân nếu làm nhà thì phải đóng cừ, lúa gặt bị ẩm,


Lưu Hà, Phá Toái:


Tiền bồi thường, bồi dưỡng.


Cung Điền ở cung Mộc hoặc có nhiều sao Mộc mà Cung Nô Bộc có Thai, Tọa: Trại cưa, đồ gỗ, xưởng gỗ, nhà ông bà cha mẹ làm nghề thợ mộc, đồ gỗ.


Bát Tọa, Không Kiếp:


Khu sửa xe, bến xe, bến ga, bến tàu, điện thoại, bưu điện, phòng thông tin,


Tấu, Hồng, Thiên Không, Dục, Suy, Kình, Linh: Khu hoặc nhà làm đồ giả hàng mẫu đặc sắc, khu hàng mã, chợ thiếc, chợ hoặc nhà bán đồ xi mạ, đồ trang sức.


Thiên Khôi, Đà, Kỵ:


Khu ở yên tĩnh vắng người, nhưng toàn là người lịch sự khá giả. Nếu mệnh có Tuần án ngữ thì hướng tốt là hướng Đông Bắc, nhà đi vào ngã ba, vào hẻm mới đến nhà mình.


Cung Điền có Hình, Tuế, Kình, Đà hoặc cung Phúc có Thái Tuế, Mệnh có Hình, Điền có Kình Đà: Đường về nhà có hình cong như lưỡi daọ


Hạn làm nhà ứng vào Cung Điền mà cung Quan Lộc có Phá Quân, Địa Kiếp, nếu năm ấy lại gặp Lưu Tang Môn, Thiên Không, Hình Riêu, Đà, Kỵ, Tử, Tuyệt, là hạn làm nhà bị nứt, sụp đổ, bị lúng móng, thiên tai, xây nhà nửa chừng thì bỏ ngang do làm ăn thất bại hoặc do túng thiếụ


Tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hoặc người có Mệnh, Thân ở 4 cung trên có Linh Hỏa tọa thủ hoặc hợp chiếu, thì nhà ở khu vực làm thợ rèn, cơ khí, đối diên nhà là khu vực có hình ốc đảọ ƠÛ khu vực này khó lòng làm nên, nhưng nếu nhà mình và khu vực nói trên, ở giữa là con đường thật lớn thì hóa giải được.


Mệnh hoặc Điền có Long Phượng phải xây nhà cao ráo, có gác nhô ra ngoài đường mới tốt, gác lửng thì xấụ


Mệnh hoặc Điền ở Ngọ có Quyền, Khốc: Khu vực nhà ở nơi biên giới, hoặc giáp ranh hai địa phương Tỉnh hoặc Quận thì khá giả.


Mệnh hoặc Điền ở La Võng gặp Tuần hay Triệt án ngữ, Long Trì, Thanh Long, Thai, Kình, Đà, Linh Hỏa: Giếng hoặc hòn non bộ nằm ngay dưới chân cầu thang hình xoắn ốc, hoặc lối đi vào nhà có giếng sát ngay bên cạnh tường.


Cung Điền có Sinh, Vượng, Mộ, Thiên Không, Kình, Đà: Khu công ty cổ phần, tổ hợp thương mại, nhà luôn ở chung đụng với người thân.


Xương Khúc ở Điền hoặc Mệnh chủ về ruộng rẩy, nhà có vườn, trước nhà phải có trồng hoa lá chậu kiểng thì mới tốt.


Mệnh hoặc Điền có Hình, Riêu, Linh, Hỏa, Quan, Phúc: Nhà phải ngó về hướng Tây mới tốt.


Nhưng phải có hàng rào che chắn, ngồi trong nhà không thấy ngoài đường.


Mệnh hoặc Điền có Long Trì, Phượng Các: Hạp đến quốc gia nào lấy loài chim làm biểu tượng, làm vật tổ thì hạp.


Mệnh, Thân, Điền mà có Không Kiếp. Tử, Tuyệt, Linh, Xương, Khúc, Cô Quả: Ơ*? ngay ngã tư là bại vong.


Người làm nghề công nghệ vi tính internet, thống kê, kế toán: Trong nhà phải có ao cá nhỏ li ti mà nhiều mới hạp, biểu tượng cho vi mạch điện tử.


Song Hao chủ sự tái đi tái lại nhiều lần nên có sách nói là bộ máy tiêu hóạ Như vậy nếu ở cung Điền thì thường có 2 nhà trở lên, do tự tạo hoặc do công vụ mà được cấp thêm.

Mệnh hay Điền có Thai Cáo thì công sở phải có bảng hiệu, bảng xe, bao bì phải đẹp. Nếu là nhà riêng thì cổng nhà phải có hàng rào thật đẹp.

Do nghĩa Xương Khúc, Linh, Dục là giấy tờ lầm lộn, tính toan sai lầm, giấy khống, giấy giả, giấy bị thất lạc, học hành dở dang nên nếu Mệnh hoặc Điền có các sao này thì trong nhà tranh ảnh nên dùng bản sao, bản copy, bản tầm thường thì mới hạp.

Đà, Mộ, Thiên Không, Quang Quý, Không Kiếp: Nhà ở nhờ, ở đậu, trả góp, cho thuê nhà, làm bảo hiểm địa ốc.

Riêu Thai

Chê nhau là “dâm”
Cụ Hoàng Hạc

Một trường hợp khác nữa, xảy ra giữa đôi vị hôn phu và vị hôn thê, cũng đều là tay Tử Vi một cây, theo người trong cuộc tự xưng. Câu chuyện đến tai tôi, là vì một người bạn đã cho biết.

“Cô” thì thấy cậu có Thiên Y, Thiên Riêu thủ Mạng, cho nên do dự và cự tuyệt. Nhưng cậu lại bảo Mạng của cô đâu có hơn gì, vì có Đào Hoa.


Lấy sách ra mà đoán thì cô và cậu đều lên án bảo vị hôn phu, vị hôn thê của mình là “dâm” cả. Khi người bạn tôi dẫn hai người đến chơi, cho xem hai lá số, tôi bỗng bật cười:


- Tại sao hai bạn nghi kỵ nhau?


Cô ấy nói:


- Không có gì bằng chứng cụ thể song tôi đã có kinh nghiệm về sao Thiên Riêu… Không ai có thể chối cãi nó không phải là dâm tinh, dâm một cách quái ác.


Cô đưa cho tôi xem một cuốn Tử-Vi bằng tiếng Việt.


Tôi cười bảo:


- Tánh nó là vậy, nhưng tại sao cô không để ý coi nó nằm ở cung nào? Thiên Riêu nằm ở cung Ngọ là đặc cách, không còn phải là dâm tinh mà là thứ Văn tinh đa cảm ghê lắm.


Riêu mà ở cung Ngọ, đó là sen mọc trong bùn mà chẳng bị hôi tanh mùi bùn. Không phải dâm loạn đâu, mà là đa tình đa cảm lắm, và cũng cực kỳ thông minh. Thủ mạng ở Ngọ cung thì hay đáo để.


Cô ấy lại hỏi:


- Sách nào nói thế?


- Cô có học Tử Vi Đẩu Số của Trần Đoàn không?


- Thưa chữ Hán


- Đúng, chữ Hán.


- Thế là chịu.


Tôi bèn lật sách ra, đọc cho cô ấy nghe. Cậu ấy cũng ngồi nghe. Một hồi lâu cậu lắc đầu, bảo:


- Mình cứ đọc ba cái cuốn sách ấy là chết. Bây giờ tới phiên tôi, tôi đã đã hết sức ân hận vì có lẽ cũng hiểu lầm.


Tôi nói:


- Dĩ nhiên rồi. Cậu thấy Đào Hoa thủ Mạng, chê là dâm tinh. Nhưng cậu nên xem kỹ Đào Hoa đứng chung với Nguyệt Đức lại có Tử Phủ thì sao gọi là dâm. Đây cũng như lá số của cậu. Đào Hoa ở đây là sao đa cảm đa tình thôi. Lại có Tử Phủ thủ cung, thì lại rất là đứng đắn.


Thảo nào hai người cùng rất ghét dâm tinh. Có hai thứ dâm:


Dâm mà cao thượng thì gọi là đa cảm, đa tình; còn dâm mà bị hãm địa và ngộ nhiều hung tinh mới đáng sợ.


Đào Hoa mà ngộ sao Thai
Chồng vừa đi khỏi, dẫn trai vào nhà


là đúng, nhưng ở đây có sao Thai. Mà sao Thai là chiếu (biên chiếu hay chánh chiếu) là không phải gọi là Thai, Đào, tức là hai sao phải ở cùng một cung mới phải.

Hai người cùng cười lên. Và cả thảy cùng cười trong thông cảm…

Tả Hữu Kình Hình cung thê

Cụ Hoàng Hạc

Có một việc khá vui xảy ra, về số Tử Vi. Một bà kia mua sách Tử Vi về học. Tra sổ được, nhưng khi đoán thì cứ trong sách dạy sao, là theo ngay đó một cách hình thức để đoán càn… Làm suýt xẩy ra một trận giặc lớn. Bà này thấy trên lá số Tử-Vi của ông chồng, cung Thê có Tả Phù, Hữu Bật liền điểm mặt ông chồng:

- Này nhé! Ông vợ hai, vợ ba mà giấu tôi.


- Lạ nhỉ! Bà căn cứ vào đâu?


- Á, à, chưa hết. Mạng ông lại có Đào Hoa chiếu nữa, chết rồi! Vậy mà tôi cứ tưởng ông tử tế chứ.


Ông chồng nghẹn ngào bảo:


- Bà lố rồi! Bà căn cứ vào lá số Tử Vi mà nói thì chết tôi rồi!


- Thì căn cứ vào đó là ăn chắc, chứ bộ tôi vu khống ông sao?


Bà làm dữ với ông. Mấy ngày trời, bà vẫn đinh ninh là ông có vợ hai, vợ ba, cho người theo dõi… Nhưng chả thấy gì lạ. Ông chồng hàng ngày vẫn đi làm rồi về, nhưng mỗi khi đi hơi trễ thì bà làm mặt lớn mặt nhỏ.


- Ừ! Ghé con nào? Tôi sẽ tìm ra và phanh xác nó.


Ông chồng bực mình quá, bảo vợ:


- Bây giờ tôi với bà thử cùng tìm một ông thầy nào thật tài, đến hỏi. Nhưng tôi không tin, vì sự thật, tôi chả có gì cả, mà bà cứ bảo mãi thế là tôi sẽ bỏ nhà mà đi cho xem.


- Ừ, có rồi! Đi… Thì ông đã quyết đi lâu rồi. Tôi xem ông lúc này đã đổi ý, tôi thấy rõ quá.


Công việc cứ như thế, lằng nhằng mãi cả tháng. Hết sức chịu đựng, bèn đến tôi hỏi ý kiến.


Tôi hỏi:


- Theo lá số này, thì không thể đoán là nhiều vợ, mà phải đoán bà vợ hiện tại của ông có tài đảm đang, cả một bầy tôi trai, mọi gái không bao giờ làm vừa lòng bà. Bà săn sóc cho ông, bà lo cho ông, như thế ông có cả 5, 3 vợ vậy. Có phải thế không?


- Đúng là vậy! Còn việc bé mọn tôi bao giờ có. Tôi thề…


- Ông không phải thề… Trước đây, lúc ông chưa cưới bà, ông đã hư trên dưới 3 đời. Nghĩa là đi coi mặt, hứa hẹn xong, nhưng rồi vì một lẽ gì chả hiểu, rồi hỏng. Mà hỏng một cách đau thương và hiện tại vẫn còn yêu nhau trong lý tưởng. Cả hai ba lần như thế. Có vậy không?


Ông ấy ngồi suy nghĩ, cặp mắt lim dim và nhìn một cách xa xăm, dường như ôn lại quãng đời đã qua, có nhiều sóng gió ở tình trường.


Ông kể lại cho tôi nghe. Là ông đã yêu tha thiết, và công việc hai bên đã ưng thuận. Rồi bỗng một việc không đâu xảy ra, vị hôn thê ra đi… Ra đi trong lúc khói lửa mịt mù… Và đến nay chưa rõ số mạng sống chết thế nào.


Tôi nói:


- Sao Thiên-Hình và Kình tại cung Thê đây… là chắc người đó đã mạng chung.

Ông ấy nói:


- Lần thứ hai cũng như lần trước. Tôi không hiểu sự thật rồi đây sẽ như thế nào, nhưng tôi vẫn yêu những người ấy.


Tôi đã nói với vợ tôi, hồi trước ngày cưới, rằng tôi đã lỡ hai lần.


Tôi cười bảo:


- Tả-Hữu ngộ Hình, Kình thì bị hỏng 2,3 đời vợ một cách đau thương chứ không phải là nhiều vợ đâu.

Những người tuổi Mộc

Cụ Hoàng Hạc

Những cung đại hạn nguy nhất những người tuổi hành Mộc mà lại tiểu hạn lâm vào các cung Hỏa thì nguy gớm! Có một cô gái quen với tôi, cậy tôi xem giùm lá số tử vi của cô. Tôi nhìn thấy cung Phu xấu lắm. Mạng cô là mạng Mộc, mà hạn sắp lâm vào cung Hỏa. Tôi nói:

- Cô hãy ráng lo mà học. Số cô đừng lấy chồng khoảng 4 năm này…Nếu cô cải số thì e phải hỏng cả.

Một ông bạn nghe tôi đoán, hỏi:

-Mạng Mộc sinh cung Tý thủy tốt lắm. Còn tiểu hạn cô dù lâm vào cung Hỏa, thì đại hạn còn ở thủy cung, chắc là không sao.

Tôi nói:

- Lấy Ngũ hành sinh khắc chế hóa thì nên biết không có mạng ai thuộc Mộc mà hạnh phúc. Là vì trong các hành, hành Mộc dở nhất. Mạng Kim, sinh Thủy, bị Hỏa khắc, nhưng Hỏa khắc Kim, thì Kim thành khí cụ, gian nan mà tốt về sau Mạng Thổ bị mộc khắc, nhưng Mộc khắc Thổ, bị khắc nhưng được Mộc che chở cho râm mát mà khỏi thành đất hoang…Thổ sinh Kim thì Thổ trở nên quý hơn. Chỉ có Hành Mộc sinh Hỏa thì bị tan ra thành tro bụi. Cho nên tuổi hành mộc này kỵ nhất là gặp người yêu mạng thuộc Hỏa. Gặp mạng Hỏa và gặp vào hạn Hỏa thì tiêu cả đời!

Anh bạn tôi phân vân, tuy không cãi lại nhưng vẫn nói:

- Để xem.

Một thời gian cô gái này đến gặp tôi bảo cô sắp lấy chồng. Chồng cô hứa cưới cô và ông chồng làm to lắm.

Học giỏi bảnh trai quân tử…Tôi hỏi:

- Tuổi gì?

- Tuổi Giáp Tuất


Tôi nhìn cô ngạc nhiên:


- Sao lại lấy chồng Hỏa, lại tuổi Hỏa. Cô đã quên lời tôi dặn rồi à.


- Nhớ chứ! Nhưng anh ấy yêu tôi lắm! Con nhà thế phiệt trâm anh, học giỏi lắm, ăn nói đàng hoàng…


Tôi lặng thinh.


Tôi không nói gì cả, chỉ thở ra và cũng hơi hoài nghi và rất mong mình đoán sai.


Té ra, không đầy một tuần lễ, thì bỗng thấy cô gái đến, tóc tai rũ rượi, khóc lóc bù lu bù loa: rằng đã bị người yêu phụ ước một cách chua cay. Tên Sở khanh đã để lại cho nàng một “bầu” tâm sự!


Tôi mới nghĩ: anh bạn tôi đáo để thật! Trước đây ảnh đã dặn tôi: hãy lưu ý thật kỹ về mấy cái hạn lâm vào cung khắc mạng. Mạng mộc mà hạn lâm vào cung Hỏa thật là cảnh đời tang tóc!


Sách tử vi cũng có nói, nhưng lại nhấn mạnh phần quan trọng đến thế, cho nên chúng tôi xem thường. Xem tử vi thì rất khó. Vô ý mà bỏ qua một vài chi tiết rất nhỏ cũng đủ làm cho mình đoán sai. Như về các dâm tinh, thì có nhiều người quá máy móc cứ đinh ninh rằng đàn bà có dâm tinh là người không đứng đắn. Cái đó tùy.

Hạn Thiên Cơ

Cụ Hoàng Hạc

Có một ông thầy hồi đó đoán lá số cho người bạn tôi, quả quyết: đến năm Tỵ (cách đây 6 năm) sẽ chết, vì già mà ngộ Thiên Cơ, trùng hạn gặp Đào hoa. Quả thật, anh bạn tôi mất tại Ba Lê đúng vào năm ấy. Tôi lật số tử vi của ông bạn rồi tấm tắc khen thầm. Nhưng cũng một ông bạn khác nhờ ông này xem giùm thì cũng được ông ấy đoán:

Hạn Thiên cơ nhằm khoản 52 thì chết. Cũng giống số ông bạn kia. Nhưng ông bạn này đã trên 60 rồi, lại tôi bảo:


- Ê! Toa nói thằng cha ấy hay! Nhưng moa khoảng 51 bước qua 53 bước lại, moa lo muốn chết. Té ra… Chẳng có gì cả! Thằng ấy “láo”


Tôi không biết nói sao, bèn nảy ra ý thì đi tìm một anh bạn thạo tử vi khác (anh này là nhà tu nhưng là một cây tử vi). Một hôm thình lình ông bạn đi vân du dã rồi, lại lò mò trở về ghé thăm bạn cũ. Mừng quá tôi đem lá số ấy ra hỏi, và thuật lại những lời mà ông bạn trên đây than phiền. Tôi hỏi,


- Tại sao hai lá số cùng một hạn Thiên Cơ mà một người bị, một người không?


Anh bạn nhà tu của tôi bảo:


- Thiên Cơ gì! Đào hoa gì! Người ta Thiên Cơ cư Sửu, Đào hoa cư Tý, nhưng Thân đeo cung Phúc ngộ Trường Sinh. Chết sao nổi mà chết!


- Thân cư Phúc địa ngộ trường sinh là sao?


- Đây, tôi nói cho anh nghe: Người này tuổi Thủy, mạng cư Ngọ vị, tức là sai mạng. Mạng cung tương khắc. Người này lại tuổi Âm nam nên vòng Đại hạn đi nghịch chiều. Trong khoảng nhỏ, anh bị lận đận, có thể chết ngay hồi trong lúc sơ sinh. Nhưng sống lại được, là nhờ Thân cư cung Phúc đã ngộ Trường Sinh mà còn Thân cư cung Thân Kim nữa. Kim trường sinh lại năng sinh Thủy thì Thủy vượng, lửa ở cung Ngọ đốt không đủ sức tiêu diệt. Vòng đại hạn nghịch chiều qua khoảng 30 trở lên thì anh này mới thấy khá được vì hết bị hỏa thiêu, nhưng chưa đắc thời là vì hạn vào các cung Mộc, mạng Thủy mà hạn lâm Mộc cung thì bị tiết khí (rút bớt khí) đi nghĩa là Thủy cũng bị lưng bớt vì phải lo nuôi dưỡng cung hạn. Tuy vậy lúc này anh ấy cũng khá hơn lúc thiếu thời. Đến lúc qua hạn, Thủy thì Thủy, Thủy trùng phùng, Phá quân cư Tý, tức là hạn chịu ảnh hưởng của cung phúc (thuộc hành kim) thì đã chẳng những không chết, lại còn Vượng lên ghê lắm; Phá quân cư Tý tức là sóng cồn đại hải ngộ, Thanh long cư Thìn (Long cư long vị) ngộ Lưu hà tức là rồng ra biển cả mặc sức tung hoành… làm sao chết nổi. Thằng cha thầy kia coi mò thiển cận quá, anh hỏi lại có phải vậy chăng?


Tôi thuật lại lời nói của ông bạn thày tu cho anh bạn tôi thì anh này nói:


- Hay quá: cái gì chứ lối cắt nghĩa như thế tinh vi.